Lợi nhuận điện than có thể tốt hơn nhờ được huy động nhiều khi giá khí tăng cao, mùa khô đến sớm và kéo dài. Cổ phiếu nhóm điện than tăng khá tốt thời gian qua.
.png)
Diễn biến cổ phiếu nhóm điện phân hóa trong bối cảnh thị trường chung bị ảnh hưởng chiến sự. Ảnh: EVN
Hai thái cực cổ phiếu nhóm điện
Thị trường chứng khoán kể từ đầu tháng 3 chịu sự chi phối của những thông tin liên quan đến chiến sự Trung Đông. VN-Index rơi từ gần 1.900 điểm thủng mốc 1.600 điểm vào phiên ngày 23/3 và mới phục hồi sau cú “quay xe” của Tổng thống Donald Trump.
Trong bối cảnh đó, dòng tiền dường như đang tìm đến cổ phiếu mang tính phòng thủ như nhóm sản xuất và phân phối điện. Song, thống kê cho thấy, không phải cổ phiếu điện nào cũng được dòng tiền tìm đến.
Những cổ phiếu thuộc nhóm năng lượng tái tạo, thủy điện, nhiệt điện than ghi nhận tăng giá. Mã GEG của Điên Gia Lai ghi nhận tăng giá từ vùng 14.550 đồng/cp lên 16.400 đồng/cp kể từ phiên 9/2 tới nay. Điện Gia Lai là đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn TTC của doanh nhân Đặng Văn Thành, sở hữu 23 nhà máy thủy điện, điện mặt trời và điện gió với tổng công suất vận hành gần 800 Mwp, cung cấp 8 tỷ kWh sản lượng điện cho lưới điện quốc gia.
Cổ phiếu Cơ điện lạnh (mã: REE) cũng tăng từ 60.000 đồng/cp lên 66.800 đồng/cp trong cùng khoản thời gian. REE là tập đoàn đa ngành gắn liền với tên tuổi bà Nguyễn Thị Mai Thanh. Ở lĩnh vực năng lượng, tập đoàn sở hữu nhiều đơn vị thành viên với sản lượng điện thương phẩm 11,35 tỷ kWh như Thủy điện Thác Bà (mã: TBC), Thủy điện Thác bà 2, Thủy điện GE Tây Nguyên, Thủy điện Thác Mơ (mã: TMP), Thủy điện Vĩnh Sơn – Sông Hinh (mã: VSH), Phong điện Bình Thuận,…
Nhóm nhiệt điện than như Nhiệt điện Phải Lại (mã: PPC), Nhiệt điện Hải Phòng (mã: HND) hay Nhiệt điện Quảng Ninh (mã: QTP) tăng giá từ 9% - 12%,…
Ngược lại, nhóm điện khí như NT2 của Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 giảm giá từ vùng 27.750 đồng/cp xuống 25.300 đồng/cp. Cổ phiếu POW của PV Power giảm từ vùng 14.500 đồng/cp xuống 12.750 đồng/cp. Tổng công ty phát điện 3 (mã: PGV) cũng giảm từ 26.300 đồng/cp xuống 24.100 đồng/cp.
PV Power là nhà sản xuất điện lớn thứ 2 tại Việt Nam, tổng sản lượng đạt 16 tỷ kWh (2024). Tổng công ty sở hữu nhiều nhà máy sử dụng khí như Cà Mau 1 và 2, Nhơn Trạch 1 và 2; sử dụng than như Vũng Áng 1 và một số nhà máy thủy điện như Hủa Na, Đakrinh. Trong đó, sản lượng điện chủ yếu đến từ các nhà máy điện khí và than, thủy điện đóng góp không đáng kể.
Tổng công ty phát điện 3 cũng là nhà sản xuất điện lớn với các nhà máy điện khí như Phú Mỹ và than như Vĩnh Tân, Mông Dương. Công ty cũng có nhà máy thủy điện nhưng công suất không cao.
Diễn biến này phản ứng mức ảnh hưởng của xung đột Trung Đông ảnh hưởng lên hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc giá dầu tăng cao có thể khiến giá khí và than (nhập khẩu) - nhiên liệu đầu vào với nhà máy điện khí và than – tăng cao. Tuy nhiên, thông thường điện than sẽ được huy động nhiều hơn khi diễn ra tình trạng thiếu hụt nhiên liệu khí.
Nắng nóng sớm và kéo dài làm tăng nhu cầu điện
Theo báo cáo của EVN, trong 2 tháng đầu năm, tổng sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt trên 48,2 tỷ kWh, tăng 7,09% so với cùng kỳ năm trước. Nhiệt điện than tiếp tục giữ vai trò chủ đạo với sản lượng huy động chiếm 50,97% tổng sản lượng nguồn, tiếp theo là thủy điện 22,37%, năng lượng tái tạo 15,75%, nhiệt điện khí 6,86% và nhập khẩu 4,05%.
Tình hình thủy văn đầu năm được đánh giá khá thuận lợi. Tổng điện năng còn lại trong các hồ tính đến cuối tháng 2/2026 ước tương đương 11,5 tỷ kWh. Về nhiên liệu cho sản xuất điện, các nhà máy nhiệt điện cơ bản đảm bảo giữ tồn kho than cao hơn định mức EVN; nhiên liệu khí và dầu cũng cơ bản đáp ứng được yêu cầu huy động của hệ thống.
Tuy nhiên, dự báo năm nay có thể xuất hiện nắng nóng sớm và kéo dài hơn năm ngoái, có thể xảy ra tình trạng thiếu nước, khi hiện tượng La Nina sẽ suy yếu dần trong nửa đầu năm nay rồi chuyển sang El Nino vào cuối năm 2026, đầu năm 2027.
Để chuẩn bị cho cao điểm mùa khô, Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) đang tối đa hóa sử dụng khí nội địa và nguồn LNG có giá tương đối thấp được GAS nhập trước khi xung đột xảy ra, đồng thời có thể tạm thời giảm huy động các nhà máy nhiệt điện than sử dụng 100% than nhập khẩu nhằm tích trữ than cho mùa khô, trong bối cảnh Việt Nam thường nhập khẩu khoảng 30–40% nhu cầu than.
Trong khi đó, các nhà máy nhiệt điện than sử dụng than phối trộn (than nội địa và than nhập khẩu) như Vũng Áng, Quảng Ninh và Phả Lại vẫn vận hành bình thường.
NSMO cũng đã đề xuất phối hợp với 5 tổng công ty điện lực của EVN và cơ quan chức năng địa phương để lập sẵn danh sách phụ tải có thể tiết giảm theo các kịch bản khác nhau.
Vietcap cho rằng có tiềm năng tăng nhẹ đối với dự báo lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số năm 2026 cho các doanh nghiệp nhiệt điện than, gồm QTP và PPC, khi sản lượng cả năm cao hơn kỳ vọng có thể bù đắp tác động từ giá than cao hơn, giả định việc giảm huy động than hiện nay chỉ mang tính tạm thời. Đối với các doanh nghiệp nhiệt điện khí như NT2 và POW, Vietcap giữ quan điểm trung lập ở thời điểm hiện tại, khi sản lượng cao hơn kỳ vọng có thể bù đắp phần nào giá khí đầu vào cao hơn.
Ngọc Điểm
Bình luận (10)





