Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 tiến sát 500 tỷ USD, tăng trưởng hai chữ số và lập kỷ lục mới. Tuy nhiên, khu vực FDI chiếm hơn 3/4 giá trị xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp nội địa suy yếu, đơn hàng giảm và rủi ro kéo dài sang 2026.

Ảnh minh họa
Năm 2025 khép lại với con số xuất khẩu đáng chú ý. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17% so với năm trước. Có 36 mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, trong đó 8 mặt hàng vượt mốc 10 tỷ USD, đóng góp hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu.
Doanh nghiệp nội địa chật vật giữ đơn hàng
Tuy nhiên, đằng sau bức tranh “nhìn từ xa rất đẹp” là một thực tế kém cân đối. Khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đạt 107,95 tỷ USD, giảm 6,1% và chiếm chưa đến 23% tổng kim ngạch. Ngược lại, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mang về 367,09 tỷ USD, tăng hơn 26% và chiếm tới 77,3%.
Nói một cách giản dị, cứ bốn đồng xuất khẩu của Việt Nam thì có hơn ba đồng đến từ khu vực FDI. Sự phân hóa này không phải hiện tượng nhất thời. Trong hơn một thập niên qua, tỷ trọng xuất khẩu của khối FDI đã tăng liên tục, từ khoảng 55% năm 2010 lên quanh mức 73–74% những năm gần đây và tiếp tục nới rộng trong năm 2025.

Ở chiều ngược lại, nhiều doanh nghiệp nội địa trải qua một năm đầy áp lực. “Chúng tôi chỉ kỳ vọng doanh số năm 2025 bằng được năm trước, chứ không dám mơ tăng trưởng”, bà Đỗ Thị Kim Loan, Tổng giám đốc Công ty Sao Nam – doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản, chia sẻ.
Theo bà Loan, biến động thuế quan tại thị trường Mỹ buộc doanh nghiệp phải tiết giảm chi phí, linh hoạt mẫu mã và chấp nhận biên lợi nhuận thấp để giữ khách hàng.
Không phải doanh nghiệp nào cũng trụ được. Chỉ vài ngày trước khi năm 2025 kết thúc, một doanh nghiệp dệt may với hơn 2.700 lao động tại khu công nghiệp Mỹ Phước (phường Bến Cát, TP.HCM) đã phải đóng cửa do cạn đơn hàng. Những trường hợp tương tự không hề hiếm.
Cục Thống kê cho biết, trong năm qua có hơn 227.000 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tăng gần 15% so với năm 2024, phản ánh sức chịu đựng của khu vực kinh tế trong nước đang bị bào mòn.
Đáng chú ý, xuất khẩu tăng mạnh nhờ điện tử, nhưng giá trị nội địa mỏng. Theo đó, động lực chính của tăng trưởng xuất khẩu năm 2025 đến từ nhóm hàng công nghệ cao. Riêng ba nhóm hàng gồm máy vi tính, điện thoại – linh kiện và máy móc – phụ tùng đã mang về khoảng 222 tỷ USD, chiếm gần một nửa tổng kim ngạch và đóng góp tới 67% mức tăng xuất khẩu.
Tại thị trường Mỹ – thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 138,6 tỷ USD – tăng trưởng chủ yếu nhờ các tập đoàn điện tử lớn như Samsung và các đối tác của Apple, cùng với hiệu ứng “frontloading” (đẩy đơn hàng sớm để né thuế).
Nếu cách đây một thập niên, hàng công nghiệp nhẹ như dệt may, giày dép chiếm tới 60% kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ, thì đến năm 2025, nhóm hàng công nghệ đã vươn lên dẫn đầu.
Cầu thế giới giảm, thuế quan siết chặt
Tuy nhiên, mặt trái là giá trị gia tăng giữ lại trong nước còn hạn chế. Doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tham gia các khâu gia công, lắp ráp, phụ thuộc lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu, khiến tỷ lệ nội địa hóa thấp và xuất siêu dễ bị thu hẹp khi nhập khẩu tăng mạnh.
Triển vọng năm 2026 được đánh giá là nhiều bất định. Hiệu ứng “frontloading” đang dần suy yếu, khi kim ngạch xuất khẩu quý IV/2025 đã chững lại, giảm 1,7% so với quý III.
Ngân hàng UOB và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều cảnh báo nhu cầu toàn cầu có thể giảm tốc, đặc biệt khi các chính sách thuế quan của Mỹ phát huy tác động đầy đủ. Chỉ số PMI tháng 12/2025 cho thấy đơn hàng mới tăng, nhưng riêng đơn hàng xuất khẩu lại giảm lần đầu sau ba tháng.
Cùng với đó, việc xuất khẩu tăng mạnh sang các thị trường lớn như Mỹ khiến Việt Nam đối mặt nguy cơ cao hơn với các vụ điều tra phòng vệ thương mại và chống lẩn tránh thuế. Chỉ cần một vài trường hợp gian lận xuất xứ, cả ngành hàng có thể bị áp thuế chống bán phá giá hoặc thuế đối kháng, làm mất lợi thế cạnh tranh ngay lập tức.
Tại hội nghị tổng kết ngành Công Thương được tổ chức mới đây, Thứ trưởng Bộ Công Thương Phan Thị Thắng thừa nhận xuất khẩu Việt Nam còn thiếu bền vững khi phụ thuộc lớn vào khu vực FDI. Nhiều chuyên gia cho rằng đã đến lúc phải chuyển trọng tâm từ tăng “lượng” sang tăng “chất”.
Để khu vực kinh tế trong nước phải trở thành trụ cột thực chất của xuất khẩu. Do đó, việc nâng cao năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước là hết sức cần thiết và coi đây là điều kiện then chốt để củng cố tự chủ kinh tế, cân bằng cán cân thương mại dài hạn với khu vực FDI.
Theo các nhóm phân tích, giải pháp căn cơ là nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và FDI, đồng thời đầu tư mạnh cho R&D, công nghệ lõi và nhân lực chất lượng cao.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về truy xuất nguồn gốc, môi trường, lao động và quản trị (ESG) nếu muốn trụ vững tại các thị trường cao cấp.
Về dài hạn, xuất khẩu không thể tách rời sản xuất trong nước. Mỗi bước tăng trưởng thương mại cần gắn với việc hình thành các chuỗi cung ứng nội địa hoàn chỉnh, gia tăng hàm lượng công nghệ và giá trị giữ lại trong nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, nếu khu vực kinh tế trong nước không sớm trở thành trụ cột thực chất của xuất khẩu, Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng dựa nhiều vào “ngoại lực” – một mô hình tiềm ẩn rủi ro lớn trước các cú sốc thương mại toàn cầu.
Thanh Hoa





