Hãy là người đầu tiên thích bài này
Quy hoạch không gian phát triển quốc gia: [Bài 1] Dựa vào hệ sinh thái

Cách tiếp cận cảnh quan dựa vào hệ sinh thái nhấn mạnh vai trò ngày càng lớn của đất đai trong cấu trúc phát triển và tài khóa quốc gia.

Quy hoạch không gian phát triển quốc gia là công cụ chiến lược nhằm tổ chức lãnh thổ một cách khoa học, khai thác hiệu quả tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực cho từng vùng, miền. Quy hoạch không chỉ xác định cấu trúc không gian kinh tế - xã hội, hệ thống đô thị, hạ tầng giao thông, năng lượng, mà còn gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Loạt bài sẽ phân tích những quan điểm mới trong xây dựng quy hoạch, dựa trên động lực và nền tảng sẵn có, góp phần định hướng không gian phát triển, thúc đẩy liên kết vùng, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. 

Quan điểm định hướng không gian phát triển quốc gia

Quan điểm quy hoạch không gian phát triển của Đảng qua từng thời kỳ hình thành song hành cùng tiến trình đổi mới tư duy phát triển quốc gia. Từ những năm đầu sau Đại hội VI, nhận thức về đất đai và không gian phát triển gắn chặt với mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực, ổn định đời sống xã hội, khắc phục khủng hoảng kinh tế kéo dài. Đất đai được xem như tư liệu thiết yếu phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo đảm sinh kế cho đại bộ phận dân cư nông thôn. Quy hoạch thời kỳ đó tập trung vào phân bổ diện tích canh tác, bảo vệ quỹ đất lúa, củng cố hệ thống thủy lợi, hạn chế chuyển mục đích sử dụng. Cách tiếp cận mang tính kế hoạch hóa cao, chịu ảnh hưởng rõ nét từ mô hình quản lý tập trung, đặt trọng tâm vào sản lượng và tự cung tự cấp.

Bước sang giai đoạn công nghiệp hóa gắn với các kỳ Đại hội VIII, IX, X, XI, tư duy quy hoạch không gian phát triển có sự dịch chuyển mạnh theo hướng phục vụ tăng trưởng nhanh. Đất đai dần được nhìn nhận như nguồn vốn quan trọng cho phát triển hạ tầng, thu hút đầu tư, mở rộng đô thị, hình thành khu công nghiệp và khu chế xuất. Quy hoạch không gian ưu tiên mở rộng diện tích xây dựng, phát triển các trục giao thông lớn, hình thành các vùng động lực kinh tế.

Không gian phát triển chủ yếu được tổ chức theo mặt phẳng hai chiều, dựa trên ranh giới hành chính, với mục tiêu khai thác tối đa quỹ đất cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ. Nguồn thu ngân sách từ đất gia tăng nhanh, tạo dư địa tài khóa cho đầu tư công, song đi kèm áp lực môi trường, gia tăng mâu thuẫn lợi ích, đòi hỏi điều chỉnh tư duy quản trị.

Từ Đại hội XII và XIII, quan điểm của Đảng về quy hoạch không gian phát triển chuyển sang nhấn mạnh tính bền vững, hiệu quả dài hạn, hài hòa giữa kinh tế, xã hội, môi trường. Đất đai được xác định là nguồn lực nội sinh, tài sản đặc biệt của quốc gia, cần được quản lý theo cơ chế thị trường có định hướng.

Quy hoạch không gian không dừng ở phân bổ diện tích, hướng tới tổ chức các vùng phát triển dựa trên liên kết, lợi thế so sánh, khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu. Tư duy tích hợp đa ngành, đa lĩnh vực được thể chế hóa thông qua Luật Quy hoạch, tạo nền tảng cho thống nhất quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch ngành. Không gian phát triển gắn với hệ sinh thái tự nhiên, lưu vực sông, dải ven biển, hạn chế cách tiếp cận cắt khúc theo đơn vị hành chính.

Định hướng chuẩn bị cho Đại hội XIV mở ra tầm nhìn mới về quy hoạch không gian phát triển quốc gia. Không gian phát triển được mở rộng vượt khỏi giới hạn bề mặt lãnh thổ, hướng tới cấu trúc đa tầng bao gồm không gian ngầm, không gian bề mặt, không gian biển, không gian tầm thấp thấp, không gian tầm cao, không gian vũ trụ, và không gian số.

Quy hoạch là công cụ quản trị chiến lược, dựa trên dữ liệu, công nghệ số, mô hình mô phỏng, phục vụ phân tích dài hạn. Đất đai được quản trị song sinh số, vừa mang giá trị vật chất hữu hình vừa gắn với giá trị dữ liệu, giá trị không gian đa chiều, giá trị sinh thái, giá trị đổi mới sáng tạo. Quan điểm phát triển đặt con người và hệ sinh thái vào vị trí trung tâm, coi chất lượng sống, an ninh môi trường, an ninh quốc gia là tiêu chí cốt lõi.

Xuyên suốt các thời kỳ, quan điểm quy hoạch không gian phát triển của Đảng thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt trước yêu cầu phát triển từng giai đoạn. Từ ưu tiên an ninh lương thực, chuyển sang phục vụ công nghiệp hóa, rồi hướng tới bền vững và đổi mới sáng tạo, tư duy quy hoạch ngày càng toàn diện, dài hạn, dựa trên nền tảng khoa học và quản trị hiện đại. Định hướng kỷ nguyên sinh thái đòi hỏi quy hoạch không gian trở thành trụ cột kiến tạo phát triển, bảo đảm khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai, duy trì cân bằng sinh thái, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hướng tới mục tiêu phát triển ổn định, thịnh vượng lâu dài.

Quy hoạch không gian phát triển quốc gia trong kỷ nguyên sinh thái

Quy hoạch không gian phát triển quốc gia trong kỷ nguyên sinh thái được đặt trên nền tảng tiếp cận quyền không gian như một hệ thống thống nhất, nơi mỗi lớp không gian mang giá trị kinh tế, sinh thái, xã hội riêng biệt. Đất đai không còn được hiểu thuần túy dưới dạng bề mặt hành chính phục vụ xây dựng hay canh tác, mà trở thành điểm giao thoa của quyền khoáng sản, quyền khai thác gỗ, quyền bảo vệ bảo tồn đầu nguồn, quyền quản lý hệ thống sông và hồ, quyền nước ngầm, quyền không gian bờ biển, quyền không gian biển, quyền không gian ngầm, quyền không gian tầm thấp, quyền không gian tầm cao và quyền không gian vũ trụ gắn với khai thác thông tin. Mỗi quyền tồn tại song song trong cùng một lãnh thổ vật lý, yêu cầu tư duy quản trị dựa trên phân lớp không gian, tích hợp dữ liệu, kiểm soát rủi ro sinh thái dài hạn.

 

Cách tiếp cận quản trị không gian đa chiều được cụ thể hóa thông qua mô hình 3 ranh giới và 4 khu vực chức năng. Ba ranh giới đóng vai trò kiểm soát cứng đối với hành vi sử dụng không gian. Ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt bao trùm đất chuyên trồng lúa nước, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, khu bảo tồn thiên nhiên, di sản văn hóa cấp quốc gia. Giá trị nằm ở dịch vụ hệ sinh thái như điều tiết nước, lưu trữ carbon, bảo vệ đa dạng sinh học, duy trì an ninh lương thực cho khoảng 100 triệu dân. Cơ chế quản lý áp dụng nguyên tắc cấm phát triển đối với hoạt động xâm hại cấu trúc tự nhiên, yêu cầu kiểm soát ở cấp cao nhất khi phát sinh nhu cầu chuyển đổi.

Ranh giới hạn chế phát triển hình thành vùng đệm sinh thái đóng vai trò giảm xung lực giữa hoạt động kinh tế và hệ tự nhiên. Không gian tại đây bao gồm hành lang thoát lũ, vùng đất ngập nước, khu vực có nguy cơ sạt lở, sụt lún, vành đai xanh đô thị. Hoạt động kinh tế được cho phép theo điều kiện chặt chẽ, mật độ xây dựng thấp, hạn chế bê tông hóa, ưu tiên nông nghiệp sinh thái, du lịch sinh thái, hạ tầng xanh. Cách tổ chức không gian giúp giảm chi phí xã hội do thiên tai, bảo toàn chức năng điều tiết tự nhiên của lãnh thổ. Ranh giới khuyến khích phát triển tập trung tại các đô thị trung tâm, khu công nghiệp, khu kinh tế, hành lang giao thông chiến lược.

Không gian phát triển được tổ chức theo chiều cao, chiều sâu nhằm tối ưu hệ số sử dụng đất, giảm mở rộng tràn lan. Phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, khai thác không gian ngầm cho giao thông, thương mại, bãi đỗ xe trở thành giải pháp chủ đạo khi quỹ đất bề mặt suy giảm. Quy luật thị trường được vận hành đầy đủ dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua quy hoạch tích hợp và công cụ tài chính đất đai.

 

Ba ranh giới được áp dụng linh hoạt trên các khu vực chức năng. Khu vực bảo tồn và dự trữ sinh quyển đóng vai trò kho dự trữ gen, nền tảng cho kinh tế xanh, kinh tế carbon, du lịch sinh thái chất lượng cao. Khu vực nông nghiệp công nghệ cao hướng tới tích tụ đất đai quy mô lớn, ứng dụng IoT, dữ liệu vệ tinh, drone giám sát mùa vụ, gắn chặt với an ninh nước và logistics vùng.

Khu vực đô thị và công nghiệp hiện đại trở thành trung tâm của kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, với mô hình khu công nghiệp sinh thái nơi dòng vật chất được tái sử dụng liên hoàn. Khu vực kinh tế biển và hải đảo giữ vai trò trụ cột cho chiến lược biển quốc gia, yêu cầu phân định rõ quyền không gian giữa điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản, du lịch biển, bảo tồn sinh thái biển.

Quản trị hệ thống không gian phức hợp đòi hỏi hạ tầng dữ liệu số hiện đại. Tiêu chuẩn ISO 19152 LADM phiên bản II cung cấp ngôn ngữ chung cho mô hình hóa quan hệ giữa chủ thể và đơn vị không gian thông qua quyền, nghĩa vụ, hạn chế. Mô hình cho phép đăng ký quyền đối với không gian 2D, 3D, 4D, bao phủ không gian ngầm, không gian biển, không gian trên cao. Quy hoạch được chuyển hóa thành lớp dữ liệu sống, cho phép hệ thống tự động kiểm tra tuân thủ, giảm phụ thuộc vào can thiệp thủ công, nâng cao minh bạch.

Trong kỷ nguyên sinh thái, dữ liệu đất đai trở thành tài sản quốc gia có giá trị cao. Chuẩn hóa dữ liệu tạo điều kiện hình thành kinh tế dữ liệu, thúc đẩy hệ sinh thái PropTech, FinTech, hỗ trợ định giá tài sản chính xác, phân bổ vốn hiệu quả, ổn định kinh tế vĩ mô.

Quy hoạch không gian phát triển quốc gia vì vậy mang ý nghĩa tổ chức lại toàn bộ quyền không gian theo cách hài hòa giữa tăng trưởng, bảo tồn, an ninh sinh thái, an ninh xã hội. Khi mỗi lớp không gian được nhận diện, đo lường, quản trị bằng dữ liệu và thể chế phù hợp, đất đai, lòng đất, biển cả, bầu trời và không gian vũ trụ trở thành nền tảng cho phát triển bền vững dài hạn của quốc gia trong kỷ nguyên sinh thái.

Link gốc

Bình luận (1)

Bài 1 với bài 2!
Đ cmm
08:09

FIREANT MEDIA AND DIGITAL SERVICE JOINT STOCK COMPANY

Giấy phép MXH số 251/GP-BTTTT do Bộ TTTT cấp ngày 23/05/2022
Chịu trách nhiệm nội dung: Ngô Minh Long