Trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, bà Phạm Thúy Nga, Tổng Giám đốc Perfect Tours cho biết: Ở Việt Nam, dù không có tour trực tiếp đến Iran thế nhưng hệ sinh thái, đặc biệt là các doanh nghiệp lữ hành outbound (du lịch nước ngoài) cũng đang bước vào trạng thái “cảnh giác” cao độ sau khi xung đột giữa Israel, Mỹ và Iran xảy ra. Cụm từ được nhiều nhà điều hành tour sử dụng và nói nhiều trong 2 ngày vừa qua chính là: “Ngồi trên đống lửa”.
Du lịch: Ngành nhạy cảm nhất trước mọi biến động địa chính trị
+ Thưa bà, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là xung đột Israel, Mỹ với Iran, đang tác động như thế nào đến hoạt động của ngành du lịch Việt Nam?
- Du lịch là ngành công nghiệp của niềm tin. Khi an ninh toàn cầu bị đe dọa, niềm tin của du khách là thứ sụt giảm đầu tiên. Ví dụ, xung đột giữa Mỹ - Iran ngay lập tức tạo ra 3 lớp tác động trực tiếp.
Thứ nhất, rủi ro hàng không và điều chỉnh đường bay. Khu vực Trung Đông là trục trung chuyển quan trọng của nhiều đường bay quốc tế nối châu Á – châu Âu và châu Mỹ. Khi không phận bị hạn chế hoặc các hãng hàng không phải bay vòng để đảm bảo an toàn, chi phí vận hành tăng, thời gian bay kéo dài, lịch trình bị xáo trộn. Điều này ảnh hưởng đến các tour châu Âu, Mỹ có transit (quá cảnh) qua Doha, Dubai hoặc các điểm trung chuyển trong khu vực.

Bà Phạm Thúy Nga, Tổng Giám đốc Perfect Tours. Ảnh: AD.
Thứ hai, tâm lý du khách sẽ bị dao động. Ngay cả khi điểm đến không nằm trong vùng chiến sự, cảm giác “thế giới đang bất ổn” khiến nhiều khách hàng trì hoãn quyết định chi tiền cho các chuyến đi xa. Những tour dài ngày, chi phí cao trở thành nhóm bị cân nhắc lại nhiều nhất.
Thứ ba, áp lực liên quan tới hoàn tiền, hủy chuyến hay đổi lịch. Chỉ cần một cảnh báo an ninh nâng cấp từ Chính phủ các nước, doanh nghiệp lữ hành phải chuẩn bị phương án hoàn tiền hoặc dời lịch cho khách, đồng thời đàm phán lại với hãng hàng không và đối tác nước ngoài. Đây là khâu tiêu tốn nhiều nguồn lực nhất.
+ Trước những diễn biến phức tạp hiện nay, doanh nghiệp đã triển khai những giải pháp gì để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo quyền lợi cho du khách?
- Ngay khi xung đột vũ trang xảy ra, chúng tôi đã kích hoạt quy trình quản trị rủi ro. Cụ thể, chúng tôi kiểm tra toàn bộ các hành trình, các đoàn khởi hành trong 30-60 ngày tới, làm việc với các hãng hàng không để xác nhận phương án thay đổi nếu cần.
Tuy nhiên, trong bối cảnh du lịch quốc tế vừa phục hồi mạnh sau đại dịch Covid-19, bất kỳ cú sốc địa chính trị nào cũng có thể làm chậm đà tăng trưởng. Vì vậy, khó khăn lớn nhất ở giai đoạn này không phải là việc huỷ tour mà tâm lý “chờ đợi xem tình hình từ phía du khách”.
Không chỉ chúng tôi, rất nhiều công ty lữ hành outbound khác cũng đã có những chiến lược dài hạn để giảm thiểu rủi ro. Đẩy mạnh các sản phẩm khu vực Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc), Đông Nam Á, Úc và New Zealand. Những thị trường này được các công ty lữ hành đánh giá có mức độ ổn định cao và ít chịu tác động trực tiếp từ xung đột Trung Đông.
Phép thử đối với các công ty lữ hành
+ Theo bà, chiến sự và những biến động địa chính trị hiện nay đang đặt ra “phép thử” như thế nào đối với năng lực quản trị và sức chống chịu của doanh nghiệp lữ hành Việt Nam?
- Xung đột Mỹ – Iran nói riêng và xung đột địa chính trị nói chung có thể sẽ còn kéo dài. Hệ luỵ sâu rộng của xung đột địa chính trị cũng khó thể nào tính toán được bằng một con số cụ thể.
Thế nhưng có thể thấy rõ, những tác động trực tiếp đối với ngành du lịch như: Phí bảo hiểm chuyến bay tăng, giá nhiên liệu hàng không tăng, biến động tỷ giá, chi phí vận hành tour quốc tế sẽ cao hơn. Và khi chi phí tăng, giá tour buộc phải điều chỉnh. Khi giá tăng, nhu cầu có thể giảm, tạo ra vòng xoáy áp lực kép.
Tuy nhiên, các chuyên gia nhận định rằng du lịch là ngành có khả năng phục hồi nhanh nếu khủng hoảng không kéo dài. Lịch sử cho thấy, sau mỗi biến động lớn, nhu cầu “du lịch bù” thường tăng mạnh khi tâm lý thị trường ổn định trở lại.
So với các giai đoạn trước đại dịch, nhiều công ty lữ hành Việt hiện đã và đang chuyên nghiệp hơn trong việc xây dựng quỹ dự phòng, linh hoạt hơn đối với các đối tác, ứng dụng công nghệ quản lý lịch trình và dữ liệu khách hàng. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng đã tái cấu trúc toàn bộ quy trình vận hành để có thể ứng phó nhanh với các tình huống bất ngờ.
Ở thời điểm hiện tại, còn quá sớm để kết luận mức độ ảnh hưởng dài hạn của chiến sự Mỹ – Iran đối với du lịch toàn cầu. Tuy nhiên, những ngày vừa qua đủ để nhắc nhở ngành lữ hành về tính mong manh của thị trường quốc tế. Thế nhưng các doanh nghiệp Việt không còn ở thế bị động như trước. Họ theo dõi sát tình hình, điều chỉnh chiến lược và đa dạng hóa sản phẩm.
Trong khủng hoảng, doanh nghiệp yếu sẽ bị đào thải. Nhưng với những đơn vị có năng lực quản trị tốt, đây lại là cơ hội củng cố vị thế. Và đây cũng chính là phép thử bản lĩnh của các doanh nghiệp lữ hành.
+ Xin cảm ơn bà!





