Kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được xác định ở mức 1.008.322,6 tỷ đồng – cao nhất từ trước tới nay và tăng khoảng 93 nghìn tỷ đồng so với năm 2025.
Quy mô này được xây dựng trong bối cảnh năm 2026 là năm đầu của chu kỳ kế hoạch trung hạn 2026 – 2030, với mục tiêu tăng trưởng GDP đặt ở mức 10%, qua đó cho thấy dư địa tài khóa được mở rộng đáng kể nhằm hỗ trợ đà phục hồi và tăng trưởng kinh tế.
.png)
Theo Báo cáo vĩ mô tháng 1/2026 của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), trong tổng mức kế hoạch trên, khoảng 972,5 nghìn tỷ đồng đã được phân bổ chi tiết ngay từ đầu năm, tương đương hơn 96% kế hoạch. Tỷ lệ phân bổ cao trong tháng đầu năm phản ánh sự chủ động hơn ở khâu giao vốn và chuẩn bị dự án, tạo nền tảng để đẩy nhanh tiến độ triển khai nếu các thủ tục đầu tư hoàn tất đúng kế hoạch.
Tuy nhiên, số liệu của Bộ Tài chính cho thấy giá trị giải ngân trong tháng 1 mới đạt 19.132,8 tỷ đồng, tương đương 2% kế hoạch Thủ tướng giao. Với quy mô kế hoạch trên 1 triệu tỷ đồng, mỗi 1% tương đương hơn 10.000 tỷ đồng. Như vậy, để hoàn thành 100% kế hoạch, bình quân mỗi tháng còn lại cần giải ngân khoảng 86.000 – 90.000 tỷ đồng, cao gấp nhiều lần mức thực hiện trong tháng đầu năm. Khoảng cách giữa kế hoạch và thực tế ngay từ đầu năm đặt ra yêu cầu điều phối tiến độ theo quý, tránh tình trạng dồn lực vào cuối năm.
Sản xuất công nghiệp hưởng lợi nhưng phụ thuộc dòng tiền thực
Về tác động tới sản xuất, VDSC ghi nhận chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 1 tăng 21,54% so với cùng kỳ; riêng ngành chế biến, chế tạo tăng 23,6%. Dù mức tăng chịu ảnh hưởng từ nền thấp năm trước, sự cải thiện ở nhóm kim loại và vật liệu xây dựng cho thấy kỳ vọng về đầu tư hạ tầng đang hỗ trợ hoạt động sản xuất.
Tuy nhiên, nếu tiến độ giải ngân không được cải thiện sớm, hiệu ứng lan tỏa có thể suy giảm khi doanh nghiệp điều chỉnh sản lượng theo dòng tiền thực tế. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tháng 1 đạt khoảng 43,1 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3% so với cùng kỳ nhưng mới tương đương 4,8% kế hoạch năm.
Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cũng xác nhận tỷ lệ 4,8% và cho rằng chi đầu tư thường tăng chậm trong giai đoạn đầu năm do các đơn vị hoàn thiện thủ tục. Trong khi đó, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (YSVN) đánh giá mức độ tác động hiện ở trạng thái “trung lập” khi tiến độ giải ngân vẫn dưới 5% kế hoạch.
Với khối lượng vốn còn lại trên 950 nghìn tỷ đồng sau tháng 1, cấu trúc thời gian giải ngân trở thành yếu tố quyết định. Nếu tiến độ trong quý I và II chỉ đạt khoảng 15 – 20% kế hoạch, khối lượng phải thực hiện trong hai quý cuối năm có thể vượt 600 – 700 nghìn tỷ đồng, tạo áp lực lớn lên hệ thống thi công và cung ứng vật tư.
Trong bức tranh đó, vai trò của Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mang tính then chốt. Đây là hai trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, tập trung nhiều dự án hạ tầng giao thông, đô thị và chỉnh trang quy mô lớn. Theo số liệu Bộ Tài chính, TP Hồ Chí Minh nằm trong nhóm địa phương có tỷ lệ giải ngân bằng hoặc cao hơn mức bình quân cả nước trong tháng đầu năm.
Với tỷ trọng vốn đầu tư công lớn, tiến độ giải ngân tại hai địa phương này có ảnh hưởng đáng kể tới tổng mức thực hiện chung của cả nước. Nếu duy trì được nhịp độ giải ngân ổn định ngay từ quý I và II, áp lực dồn vốn vào cuối năm ở cấp quốc gia sẽ giảm đáng kể. Ngược lại, nếu các dự án trọng điểm chậm tiến độ, tổng mức giải ngân toàn quốc có thể bị kéo giảm do tỷ trọng vốn tập trung cao.
Ba áp lực vĩ mô nếu giải ngân dồn cuối năm
Các chuyên gia kinh tế – tài chính chỉ ra ba nhóm áp lực có thể phát sinh nếu giải ngân tăng tốc quá mạnh trong thời gian ngắn.
Thứ nhất là áp lực chi phí đầu vào. Khi nhiều dự án đồng loạt tăng tốc, nhu cầu thép, xi măng và vật liệu xây dựng có thể tăng đột biến, gây biến động giá, ảnh hưởng tới biên lợi nhuận doanh nghiệp xây dựng và làm tăng tổng mức đầu tư thực tế. Trong bối cảnh sản xuất công nghiệp đã phục hồi mạnh đầu năm, cú hích cầu lớn trong thời gian ngắn có thể khiến chu kỳ giá trở nên nhạy cảm hơn.
Thứ hai là áp lực thanh khoản hệ thống. Mỗi 10% kế hoạch giải ngân tương đương hơn 100 nghìn tỷ đồng được bơm ra nền kinh tế. Nếu dòng tiền tập trung vào vài tháng cuối năm, thanh khoản liên ngân hàng và lãi suất ngắn hạn có thể biến động theo chu kỳ giải ngân thay vì theo định hướng điều hành ổn định.
Thứ ba là áp lực lên cán cân thương mại. Tháng 1/2026, nhập khẩu tăng 49,2% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng xuất khẩu 29,7%, khiến cán cân thương mại thâm hụt 1,7 tỷ USD theo ghi nhận của VDSC. Khi giải ngân tăng tốc, nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị cho các dự án hạ tầng có thể gia tăng, tạo áp lực ngắn hạn lên cán cân thương mại.
Ở chiều ngược lại, nếu tiến độ được điều tiết đều theo quý – mỗi quý giải ngân khoảng 25% kế hoạch (tương đương 250 nghìn tỷ đồng) – tác động lan tỏa sẽ ổn định hơn. Doanh nghiệp có thể chủ động kế hoạch sản xuất, hạn chế biến động giá đột biến và giảm rủi ro dồn tích cuối năm. Khi đó, đầu tư công không chỉ đóng vai trò kích thích ngắn hạn mà còn củng cố niềm tin thị trường và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.
Các báo cáo của công ty chứng khoán cho thấy, quy mô vốn năm 2026 mở ra dư địa tài khóa lớn chưa từng có. Tuy nhiên, hiệu quả thực chất phụ thuộc vào cấu trúc giải ngân theo thời gian. Với nền kế hoạch vượt 1 triệu tỷ đồng, mỗi tháng chậm tiến độ sẽ làm gia tăng áp lực cho các tháng sau.
Do đó, trọng tâm điều hành năm 2026 không chỉ dừng ở việc phân bổ vốn đầy đủ ngay từ đầu năm, mà nằm ở việc duy trì nhịp độ giải ngân ổn định theo quý, bảo đảm chất lượng chi tiêu công và hạn chế rủi ro vĩ mô phát sinh từ sự mất cân đối về thời gian.





