Hãy là người đầu tiên thích bài này
Việt Nam có thể trở thành nước thu nhập cao năm 2045?

Nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng 8,02% trong năm 2025 - một thành tích đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu có nhiều biến động bất lợi do việc tăng thuế quan của Mỹ.

Tổng thu nhập quốc gia trên đầu người (Gross National Income (GNI) per capita) có thể đã tăng cao hơn mức 4.750 đô la Mỹ mà một số tổ chức tài chính quốc tế ước tính trước đây, và có khả năng tăng lên tới 4.850 đô la Mỹ. Như thế, Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình cao, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB).

Tiêu chí này là 4.496-13.935 đô la Mỹ cho nhóm nước thu nhập trung bình cao trong năm 2025 dựa trên số liệu năm 2024, hay khoảng từ 4.608-14.283 đô la Mỹ ước tính cho năm 2026 dựa trên số liệu năm 2025.

Tăng trưởng kinh tế phải nhờ vào tăng năng suất lao động. Ảnh: TEKCOM

Trên cơ sở này, Việt Nam đã đặt mục tiêu trở thành nước thu nhập cao vào năm 2045. Mục tiêu này có khả thi hay không? Việt Nam cần tăng trưởng bao nhiêu trong hai thập niên tới để đạt mục tiêu này?

Trong năm 2025, tiêu chí để thuộc nhóm nước thu nhập cao là GNI trên đầu người từ 13.925 đô la Mỹ trở lên (Lichenstein có GNI trên đầu người cao nhất thế giới là 116.600 đô la Mỹ). Thông thường, WB nâng mức tiêu chí lên khoảng 2,5% một năm như trong thời gian qua. Nếu dựa trên giả định này, mức tối thiểu của tiêu chí thu nhập cao sẽ lên tới khoảng 25.000 đô la Mỹ vào năm 2045. Để có thể đạt tiêu chí tối thiểu này, Việt Nam phải tăng trưởng GDP trung bình 8% một năm trong 20 năm tới.

Câu hỏi đặt ra là: Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng cao liên tục như thế không và cần làm gì để có thể đạt mức tăng trưởng như thế?

Để trả lời câu hỏi này, cần xem xét mức tăng trưởng tiềm năng (tăng trưởng nhưng không gây áp lực lạm phát) từ lúc bắt đầu đổi mới cho đến nay. Mức tăng trưởng tiềm năng được định nghĩa là mức tăng trưởng lực lượng lao động cộng với mức tăng trưởng năng suất lao động (NSLĐ). Mức tăng trưởng trung bình trong thời gian dài thường tiếp cận với mức tăng trưởng tiềm năng.

Trong vài năm tới, việc thúc đẩy để tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng tiềm năng bằng cách bơm tín dụng vào nền kinh tế để kích cầu sẽ không bền vững, có thể tăng nguy cơ lạm phát và khủng hoảng nợ, làm chậm sự tăng trưởng trong tương lai.

Trong giai đoạn đầu sau khi đổi mới, trong những năm 1990, kinh tế Việt Nam bộc phát tăng trưởng 8-9% một năm khi các thể chế, luật lệ kìm hãm sản xuất được tháo bỏ - chủ yếu là nhờ chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông nghiệp (với NSLĐ thấp) sang lĩnh vực công nghiệp (có NSLĐ cao hơn). Nhưng Việt Nam chỉ đạt mức tăng trưởng trên 9% trong hai năm: 1995 là 9,5% và 1996 là 9,3%. Nhìn tổng thể trong suốt giai đoạn 1990-2024, mức tăng trưởng trung bình hàng năm là 6,6%. Riêng trong sáu năm 2020-2025, vì ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19, mức tăng trưởng trung bình giảm xuống còn 5,7%.

Sự tăng trưởng này dựa trên mức tăng trưởng lực lượng lao động trung bình hàng năm là 2% trong giai đoạn 1990-2019. Trong ba năm dịch Covid-19, số lao động giảm; đến năm 2021 mới tăng trở lại nhưng với tốc độ chậm hơn, chỉ còn 1,33%. Lực lượng lao động sẽ tăng trưởng chậm lại trong tương lai vì dân số đã tăng chậm - từ 1,35% một năm trong giai đoạn 1989-2019 xuống còn 1,045% từ năm 2019 đến nay, chủ yếu là vì mức sinh thay thế chỉ còn 1,91 - dưới mức thay thế 2,1 con/phụ nữ. Dự báo là giai đoạn “dân số vàng” sẽ kết thúc vào năm 2036 khi dân số bắt đầu giảm và lão hóa, tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động trên số người già hơn 65 tuổi giảm xuống. Như thế, trong thời gian trước mắt, dân số có thể sẽ tăng khoảng 0,5-1% một năm. Tuy nhiên, lực lượng lao động có thể tăng nhanh hơn thế một chút nếu tỷ lệ tham gia lao động tăng - từ mức 74% như hiện nay (theo Tổ chức Lao động quốc tế - ILO).

Vì thế, sự tăng trưởng kinh tế phải nhờ vào tăng NSLĐ. Trong giai đoạn 1990-2000, NSLĐ hàng năm tăng trung bình 5,3%; giảm xuống 4,4% trong giai đoạn 2000-2012, sau đó tăng trở lại 5,5% cho đến nay. Đáng chú ý là có dấu hiệu NSLĐ tăng tốc trong năm 2024 (5,88%) và năm nay (khoảng 6%). Nói chung, mức tăng trưởng NSLĐ trung bình là khoảng 5-6% một năm.

Việt Nam cần tập trung nỗ lực cải cách thể chế, luật lệ và cấu trúc kinh tế trong ba lĩnh vực có ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau - thực hiện chiến lược tăng NSLĐ ba chữ Đ: đầu tư, đào tạo và đổi mới. Mục tiêu của chiến lược này là tăng cường số nhân công được đào tạo và trang bị đầy đủ máy móc thiết bị để hoạt động sản xuất theo quy trình công nghệ hiện đại, trong môi trường kinh doanh lành mạnh và hữu hiệu.

Trên cơ sở nói trên, có thể đánh giá mức tăng trưởng tiềm năng của Việt Nam là khoảng 6-7% một năm nếu mức tăng trưởng lực lượng lao động trung bình là 1% trong thời gian tới. Nếu tiếp tục tăng trưởng theo mức tiềm năng này thì không đủ để đạt tiêu chí thu nhập cao vào năm 2045.

Vậy cần làm gì để nâng mức tăng trưởng NSLĐ lên, ít nhất phải đến 6,5-7,5% một năm để giúp đạt mức tăng trưởng GDP 7,5-8,5% một năm (trung bình là 8%) trong thời gian tới trong hoàn cảnh dân số tăng chậm lại?

Vì Việt Nam đi sau, NSLĐ còn thấp so với một số nước Đông Nam Á - khoảng trên một nửa so với Malaysia và Thái Lan - nên có dư địa để cải cách kinh tế nhằm nâng NSLĐ. Cần phải thấy rằng việc nâng cao NSLĐ là thử thách khó khăn cho khoảng 55-60 nước trong diện thu nhập trung bình cao - phần lớn đã không tăng NSLĐ đủ để có thể vượt khỏi bẫy thu nhập trung bình.

Một cách cụ thể, Việt Nam cần tập trung nỗ lực cải cách thể chế, luật lệ và cấu trúc kinh tế trong ba lĩnh vực có ảnh hưởng hỗ tương lẫn nhau - thực hiện chiến lược tăng NSLĐ ba chữ Đ: đầu tư, đào tạo và đổi mới. Mục tiêu của chiến lược này là tăng cường số nhân công được đào tạo và trang bị đầy đủ máy móc thiết bị để hoạt động sản xuất theo quy trình công nghệ hiện đại, trong môi trường kinh doanh lành mạnh và hữu hiệu.

Thứ nhất là tăng cường tỷ lệ đầu tư. Hiện nay tỷ lệ đầu tư là 32% GDP, cần tăng lên khoảng 40% GDP (như đã đạt tới trong năm 2007). Tốt nhất là bằng cách huy động số vốn tiết kiệm rất cao trong khu vực tư nhân qua các kênh đầu tư thích hợp. Đồng thời, tìm cách nâng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thể hiện qua việc hạ tỷ lệ ICOR (Incremental Capital Output Ratio - tỷ lệ thêm vốn/đầu ra) hiện nay quá cao ở mức 6 xuống còn 3 như tại vài nước láng giềng. Quan trọng không kém là đầu tư đúng chỗ, ưu tiên cho cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc liên kết nền kinh tế và công nghiệp hiện đại, xanh và số hóa.

Thứ hai là cải thiện công tác giáo dục và đào tạo nhân công. Điều này nhằm tăng tỷ lệ nhân công được đào tạo từ 29% lên đến khoảng 40% (mức trung bình ở các nước Đông Nam Á) và giảm tỷ lệ nhân công trong khu vực phi chính thức vốn có NSLĐ thấp (tỷ lệ này đã bắt đầu giảm nhưng vẫn còn cao ở mức 63,4%). Việc chuyển dịch nhân công từ khu vực phi chính thức sang các lĩnh vực công nghệ và dịch vụ hiện đại sẽ tăng NSLĐ một cách đáng kể - góp phần tăng thu nhập cho nhân công mà không gây áp lực lạm phát hay làm mất khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Cần kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng về giáo dục đào tạo và các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vốn nhà nước và doanh nghiệp vốn nước ngoài, để thực hiện các chương trình đào tạo, huấn nghệ thích hợp có chất lượng, nhằm cung cấp nhân lực cần thiết cho nỗ lực công nghiệp hóa.

Thứ ba, cải cách và đổi mới thể chế, luật lệ hành chính, quản lý kinh tế và kinh doanh. Nỗ lực này nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, giúp các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và số hóa. Việc này có thể giúp Việt Nam nâng mức tăng trưởng năng suất tổng thể (Total Factor Productivity - TFP: sự hữu hiệu của nền kinh tế khi biến các yếu tố đầu vào thành sản lượng đầu ra) cao hơn mức -0,4% như trong giai đoạn 2020-2023, theo một nghiên cứu mới xuất bản (Đinh & Nguyen 2025)(1). Theo nghiên cứu này, mức tăng trưởng TFP của Việt Nam toàn là âm từ năm 1990 cho đến nay, chỉ trừ giai đoạn 2010-2019 (tăng 2% mỗi năm). Nếu Việt Nam có thể nâng mức tăng trưởng TFP từ âm lên 0% - bằng với mức trung bình của các nước đang phát triển - thì mức tăng trưởng GDP trong những năm 1990 và 2000 có thể tăng thêm 1,4 điểm phần trăm một năm.

Nói tóm lại, nếu kiên trì thực hiện tốt và đồng bộ nỗ lực cải cách và nâng cấp chất lượng trong cả ba lĩnh vực nói trên theo chiến lược ba chữ Đ, Việt Nam có khả năng nâng cao NSLĐ để đưa mức tăng trưởng tiềm năng trung bình lên 8% một năm và không loại trừ khả năng có thể tăng cao hơn nếu tiếp tục có chính sách đúng đắn trong hai thập niên tới, để đạt mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh viễn cảnh này là kết quả của quá trình cải cách liên tục thành công trong vài năm; chứ không thể chưa thực hiện cải cách mà đã kỳ vọng tăng trưởng hai con số. Trong vài năm tới, việc thúc đẩy để tăng trưởng cao hơn mức tăng trưởng tiềm năng bằng cách bơm tín dụng vào nền kinh tế để kích cầu sẽ không bền vững, có thể tăng nguy cơ lạm phát và khủng hoảng nợ, làm chậm sự tăng trưởng trong tương lai. Tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh trong hai năm qua, hiện lên đến 146%, cao gấp đôi so với tỷ lệ trung bình trên thế giới là 72%. Nếu để tỷ lệ này tăng đến gần mức 200% thì nguy cơ khủng hoảng nợ doanh nghiệp có thể trở thành hiện thực. Cần chú ý đến bài học kinh nghiệm của Trung Quốc: hiện đang tăng trưởng chậm hơn so với trước đây, chỉ khoảng 5% một năm, một phần vì hậu quả của khủng hoảng nợ doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản, với tỷ lệ tín dụng/GDP lên tới 195% - thuộc hàng cao nhất thế giới.

(1) Đinh, Hinh T. và Hoai Trong Nguyên (2025), Vietnam’s Economic Leap: Productivity, Innovation and the Road to High Income Status, Palgrave Macmillan

Trần Quốc Hùng

Link gốc

Bình luận

Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này.

FIREANT MEDIA AND DIGITAL SERVICE JOINT STOCK COMPANY

Giấy phép MXH số 251/GP-BTTTT do Bộ TTTT cấp ngày 23/05/2022
Chịu trách nhiệm nội dung: Ngô Minh Long