Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiềm ẩn bất định và thách thức, điều quan trọng nhất là cần xây dựng “hàng rào” niềm tin để khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ.
Trao đổi với Diễn đàn Doanh nghiệp, TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh: Việt Nam đang có nền tảng tốt về cơ chế chính sách với tinh thần quyết liệt trong thực thi. Để hiện thực mục tiêu tăng trưởng cao cần sự khéo léo trong vận động, thu hút nguồn lực đầu tư, tìm kiếm và đa dạng hóa thị trường.
- Chính phủ nhất quán thực hiện mục tiêu tăng trưởng trên 10% dù những khó khăn toàn cầu vẫn đang tác động. Theo ông, mục tiêu này được tạo dựng từ những nền tảng quan trọng nào?
Lợi thế cạnh tranh chiến lược của Việt Nam hiện nay là ở khả năng kết hợp giữa nội lực và hội nhập. Nhìn góc độ tổng cầu của nền kinh tế, đầu tư và xuất khẩu - hai trong b động lực tăng trưởng truyền thống - đã trở thành điểm sáng của nền kinh tế trong năm qua và có nhiều dư địa tăng trưởng trong năm nay. Cụ thể, đầu tư công đã chuyển biến khá rõ rệt, còn giải ngân vốn đầu tư FDI đạt trên 9%.
Trong khi đó, xuất khẩu gắn với sự tăng trưởng trên 9% của ngành công nghiệp chế biến chế tạo trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng. Ngoài ra, một số lĩnh vực dịch vụ tiếp tục có giá trị gia tăng cao đến một phần từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo mạnh mẽ như ngân hàng, viễn thông, du lịch… Hướng tới tăng trưởng cao trong năm nay, cần tiếp tục thúc đẩy xuất khẩu nhưng cần chú trọng tính bền vững, gia tăng giá trị hàng hoá thông qua đổi mới sáng tạo, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ… Cùng với đó là đầu tư, trong đó đầu tư công có nhiều dư địa được kích hoạt từ các nghị quyết được ban hành tạo hành lang pháp lý, thể chế và sự quyết tâm. Điều này phần nào đã được phản ánh trong kết quả nổi bật của năm 2025.
Những cơ chế đột phá từ các nghị quyết được ban hành cũng đang gợi mở cách thức thực hiện mới cho không gian tăng trưởng mở rộng theo hướng đa tầng. Đó là khai thác giá trị kinh tế dưới mặt đất, ngoài khơi, kinh tế biển, “mở cửa” bầu trời phát triển kinh tế tầm cao, tầm thấp; phát triển không gian số, kinh tế đêm, kinh tế bạc…

Giá trị xuất khẩu của một số nhóm hàng lớn lũy kế từ từ 01/01/2026 đến 15/02/2026 và cùng kỳ năm 2025. Nguồn: Cục Hải quan
- Dư địa lớn và không gian tăng trưởng mở rộng đòi hỏi nguồn lực phát triển tương xứng. Nhìn về tổng cung, một số nguồn lực quan trọng còn vướng mắc, cần được khơi thông nhanh chóng để thích ứng với bối cảnh mới, thưa ông?
Nhìn về tổng cung, bao gồm nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực, công nghệ, trình độ quản trị, mặt bằng sản xuất… gắn với chuyển đổi mô hình sản xuất kinh doanh, gia tăng giá trị sản phẩm hàng hoá. Đây là vấn đề không chỉ cho năm 2026 mà còn hướng tới dài hạn. Để tạo chuyển biến cho nguồn lực về công nghệ thúc đẩy sản xuất xanh hơn, thông minh hơn, mới hơn hay phát triển lực lượng lao động chất lượng cao, tài năng và đổi mới sáng tạo… đều cần thời gian và quyết tâm thực thi mạnh mẽ những Nghị quyết có liên quan mà Bộ Chính trị đã ban hành.
Tôi muốn nhấn mạnh đến nguồn lực tài chính đang được cải cách mạnh mẽ trong những tháng đầu năm. Chính sách tiền tệ không chỉ hỗ trợ tăng trưởng mà giữ vai trò rất quan trọng để ổn định lạm phát, hạn chế những tác động tiêu cực của các cú sốc từ bên ngoài. Với ý nghĩa đó, để tăng trưởng bền vững, ngoài việc cần huy động nguồn lực bên ngoài tốt hơn thì không thể bỏ qua nguồn lực xã hội.
Đặc biệt khi tỉ lệ tiết kiệm tại Việt Nam đang cao hơn nhiều tỉ lệ đầu tư so với GDP. Như vậy có nguồn lực rất lớn chảy quanh tài sản tài chính, chưa được đưa vào sản xuất kinh doanh, tạo ra cái giá trị mới, tạo tăng trưởng. Việc phát triển thị trường tài chính toàn diện, cân đối hơn là yêu cầu cấp bách. Thị trường vốn gồm trái phiếu, cổ phiếu, các hình thức quỹ - những cách huy động nguồn lực tốt hơn mà chúng ta đang tạo dựng cho năm 2026 bằng thể chế cởi mở. Đây là một trong những nền tảng quan trọng góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh thế giới phức tạp.
- Thực hiện chuyển hoá nguồn lực tài chính dồi dào từ xã hội phục vụ tăng trưởng kinh tế đã được thực hiện nhưng chưa thành công. Theo ông, đâu là mấu chốt để giải bài toán lớn này?
Trong bối cảnh kinh tế trong nước và toàn cầu tiềm ẩn khó khăn cho tăng trưởng cao, tôi cho rằng, điều quan trọng nhất là tạo dựng niềm tin - cơ sở để huy động hiệu quả các nguồn lực, bao gồm nguồn lực tư nhân trong xã hội. Đây là cơ sở để người dân đẩy mạnh chi tiêu thúc đẩy động lực tăng trưởng tiêu dùng và tạo sự yên tâm để các doanh nghiệp rót vốn đẩy mạnh trụ cột đầu tư. Niềm tin không chỉ là trước mắt mà cần được nhìn vào kỳ vọng dài hạn và điều này liên quan chặt chẽ đến cải cách thể chế, giữ ổn định kinh tế vĩ mô cùng chính sách hỗ trợ thích hợp.
Trong đó, thể chế là khâu then chốt, tuy khó nhưng vẫn phải thực hiện. Cải cách và đổi mới của nền kinh tế chưa bao giờ dừng lại, nhất là trong giai đoạn mới đặt ra những yêu cầu cao hơn về tự chủ chiến lược, về năng lực lựa chọn con đường phát triển. Cải cách thể chế, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi, thông thoáng, bình đẳng không chỉ thu hút thêm các nguồn lực đầu tư mà là tiền đề cho việc sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả. Điển hình, cải cách thể chế, nâng cao tính minh bạch, giải trình, đổi mới tư duy đầu tư là giải pháp kéo giảm chỉ số ICOR của đầu tư công đang ở mức khá cao. Hay những cơ chế phù hợp tạo nền tảng để vốn “chạy” vào sản xuất kinh doanh tạo tăng trưởng thực thay vì một mệnh lệnh hành chính.
- Trân trọng cảm ơn ông!





