Hãy là người đầu tiên thích bài này
Thấy gì từ động thái gần 20 ngân hàng giảm lãi suất sau cuộc họp với Thống đốc Phạm Đức Ấn?

Theo chuyên gia, việc các ngân hàng thương mại giảm lãi suất sau cuộc họp với Thống đốc Phạm Đức Ấn cần được hiểu là nhằm ổn định mặt bằng chung, chứ không phải tín hiệu nới lỏng chính sách tiền tệ. Trên thực tế, nhà điều hành vẫn duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, thanh khoản được điều tiết theo từng giai đoạn và tăng trưởng tín dụng được kiểm soát chặt.

Gầm 20 ngân hàng điều chỉnh lãi suất, lãi suất cho vay giảm tới 3%/năm sau cuộc họp với Thống đốc Phạm Đức Ấn

Cập nhật của PV Dân Việt, kể từ khi tân Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Đức Ấn chủ trì cuộc họp với đại diện các ngân hàng thương mại, quán triệt định hướng điều hành lãi suất, đến nay đã có gần 20 ngân hàng công bố thông tin giảm lãi suất huy động. Thậm chí xuất hiện nhà băng công bố giảm đến 4% lãi suất cho vay.

Đơn cử, Agribank đã có văn bản triển khai điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động 0,5%/năm kỳ hạn từ 24 tháng trở lên đối với khách hàng cá nhân, hiệu lực từ hôm nay (13/4).

Ngoài giảm lãi suất huy động, Agribank cũng cho biết, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 24 tháng được sử dụng làm lãi suất tham chiếu để xác định lãi suất cho vay trung, dài hạn. Vì vậy, khi lãi suất tham chiếu giảm 0,5%/năm, lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh giảm tương ứng 0,5%/năm.

Lãnh đạo Agribank nhấn mạnh, việc đồng thời giảm cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay cho thấy nỗ lực của Agribank trong việc chia sẻ chi phí vốn với khách hàng, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế vẫn cần thêm động lực để phục hồi và tăng trưởng.

Khách hàng giao dịch tại Agribank. Ảnh: Agribank.

Tương tự, Nam A Bank cũng công bố thông tin điều chỉnh với mức lãi suất cho vay giảm đến 3%/năm, lãi suất huy động giảm đến 0,5%/năm đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Mức lãi suất này được áp dụng cho khách hàng cá nhân kể từ ngày 11/4/2026.

Không đứng ngoài cuộc chơi, LPBank điều chỉnh giảm lãi suất huy động từ 0,3% đến 1%/năm ở nhiều kỳ hạn nhằm tối ưu chi phí vốn đầu vào. Chính sách có hiệu lực từ 8h ngày 10/4/2026, áp dụng đồng bộ trên toàn hệ thống, bao gồm cả kênh ngân hàng và kênh bưu điện. Sau điều chỉnh, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục được duy trì ở mức cạnh tranh trên thị trường, đồng thời tạo điều kiện để Ngân hàng từng bước giảm lãi suất cho vay.

Ở chiều ngược lại, trên cơ sở tiết giảm chi phí và cân đối nguồn vốn, LPBank triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, với mức giảm lãi suất cho vay linh hoạt, có thể lên tới 3%/năm tùy theo từng chương trình và đối tượng khách hàng.

Trong khi đó, dù nhập cuộc tăng lãi suất huy động cách đây không lâu, Vietcombank cũng quyết định giảm trở lại từ ngày 13/4. Theo đó, lãi suất đối với kỳ hạn có lãi suất cao nhất (24 tháng) được điều chỉnh giảm 0,5%/năm xuống mức 6%/năm; các kỳ hạn khác sẽ được tiếp tục rà soát để điều chỉnh phù hợp. Với điều chỉnh này, lãi suất huy động tại tất cả kỳ hạn của Vietcombank đều không vượt quá mức 6%/năm.

Ông Nguyễn Dương Công Nguyên, chuyên gia phân tích ngành tại Mirae Asset nhìn nhận việc các ngân hàng thương mại gần đây đồng thuận giảm lãi suất cần được hiểu là nhằm ổn định mặt bằng chung, chứ không phải tín hiệu nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ. Trên thực tế, nhà điều hành vẫn duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp, thanh khoản được điều tiết theo từng giai đoạn và tăng trưởng tín dụng được kiểm soát chặt.
Bên cạnh đó, diễn biến tăng lãi suất thời gian qua đã được dự báo, nhưng tốc độ tăng nhanh nếu không kiểm soát có thể gây rủi ro. Quan trọng hơn, tăng lãi suất không giải quyết ngay được bài toán mất cân đối giữa tín dụng và huy động. Do đó, việc hạn chế cuộc đua lãi suất là cần thiết.
Việc NHNN chọn định hướng thay vì áp đặt lãi suất phản ánh một thực tế nền kinh tế đang ở trạng thái nhạy cảm, cần sự linh hoạt hơn là những quy định cứng nhắc, nhằm vừa duy trì tăng trưởng, vừa hạn chế rủi ro tích tụ trong tương lai.

Báo động tình trạng dòng tiền "kẹt" trong hệ thống

Trao đổi nhanh với PV Dân Việt, chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa nhận định "nút thắt" khó gỡ nhất đối với nền kinh tế hiện nay chính là bài toán lãi suất. “Nếu mặt bằng lãi suất tiếp tục neo ở ngưỡng cao, dòng vốn đầu tư từ khu vực tư nhân đối mặt với nguy cơ "đóng băng", kéo theo sự đình trệ của động cơ tăng trưởng chính”.

Bàn về giải pháp, theo ông Nghĩa, để hạ nhiệt lãi suất, việc nới lỏng chính sách tiền tệ và gia tăng cung tiền là điều tất yếu. Tuy nhiên, động thái này lại trực tiếp gây áp lực lên lạm phát, nhất là khi các biến số vĩ mô như giá năng lượng thế giới và tỷ giá USD/VND vẫn đang diễn biến hết sức căng thẳng.

Chuyên gia này cảnh báo, nếu lãi suất duy trì ở mức cao như hiện nay, dòng vốn đầu tư khu vực tư nhân sẽ bị "tắt", triệt tiêu động lực tăng trưởng đột phá. Ngược lại, nỗ lực bơm thanh khoản để giảm lãi suất lại vấp phải rào cản từ áp lực lạm phát, tạo thành một vòng xoáy thách thức cho công tác điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn mới.

Theo Cục Thống kê,tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 2,4% so với cùng kỳ, trong khi huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0,8%.

Ông Nguyễn Dương Công Nguyên phân tích, điều này phản ánh sự mất cân đối kéo dài trong hệ thống ngân hàng. Dù lãi suất huy động đã tăng khoảng 18 điểm cơ bản ở kỳ hạn ngắn và 46 điểm cơ bản ở kỳ hạn dài, thanh khoản vẫn chưa cải thiện rõ rệt. Thực tế vấn đề không chỉ nằm ở lãi suất, mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố sâu xa hơn.

Một trong những nguyên nhân chính là dòng tiền trong nền kinh tế chưa được khơi thông. Từ sau cú sốc trái phiếu doanh nghiệp, tín dụng vào kinh doanh bất động sản tăng mạnh, nhưng thị trường lại không hấp thụ tốt. Giá bất động sản vẫn neo cao, chủ yếu ở phân khúc trung và cao cấp, trong khi thu nhập người dân chưa ổn định.

Kết quả là giao dịch sụt giảm mạnh (giảm gần 24% so với quý trước), khiến dòng tiền bị “tồn đọng” tại các dự án, buộc nhà điều hành phải có động thái hạn chế tín dụng vào bất động sản, nhằm thúc đẩy doanh nghiệp bán hàng tồn trước khi mở rộng đầu tư mới.

“Trong nước, tăng trưởng tín dụng cao kéo dài cùng với chi phí đầu vào tăng như nguyên vật liệu, năng lượng đang làm gia tăng rủi ro lạm phát trong năm 2026. Vì vậy, chính sách tiền tệ khó có thể nới lỏng mạnh, dù mục tiêu tăng trưởng vẫn ở mức hai chữ số.

Ở bên ngoài, áp lực còn lớn hơn khi đồng USD có xu hướng mạnh lên, khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không giảm lãi suất như kỳ vọng và dự trữ ngoại hối trong nước chưa phục hồi. Những yếu tố này khiến việc duy trì lãi suất thấp trở nên tốn kém và tiềm ẩn rủi ro cho ổn định vĩ mô”, chuyên gia tại Mirae Asset nhận định.

Còn ông Nguyễn Hưng - Tổng giám đốc TPBank lý giải, điểm cốt lõi của thị trường tài chính Việt Nam là sự phụ thuộc rất lớn vào hệ thống ngân hàng thương mại. Phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế, kể cả các dự án có thời gian hoàn vốn dài như hạ tầng hay bất động sản vẫn chủ yếu được tài trợ bằng tín dụng ngân hàng, trong khi đáng ra những nhu cầu này cần được chia sẻ bởi các kênh vốn dài hạn.

Vấn đề nằm ở chỗ nguồn vốn của ngân hàng lại mang tính ngắn hạn. Người gửi tiền tại Việt Nam có xu hướng chọn kỳ hạn dưới 12 tháng để đảm bảo tính linh hoạt, trong khi quy định hiện hành chỉ cho phép các ngân hàng sử dụng tối đa 25% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn.

Điều này tạo ra độ lệch kỳ hạn, nghĩa là ngân hàng phải dùng nguồn vốn ngắn để đáp ứng nhu cầu vốn dài, nhưng lại bị giới hạn bởi quy định an toàn. Hệ quả là khả năng mở rộng tín dụng không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu vay hay mặt bằng lãi suất, mà còn bị ràng buộc bởi chính cấu trúc nguồn vốn.

Chính vì vậy, dư địa của chính sách tiền tệ thực tế không còn quá rộng. Việc nới lỏng hay siết chặt lãi suất đơn thuần khó có thể giải quyết triệt để bài toán vốn cho nền kinh tế. Thay vào đó, cần sự phối hợp với các chính sách khác, đặc biệt là phát triển các kênh dẫn vốn dài hạn để giảm tải cho hệ thống ngân hàng.

Ông Nguyễn Minh Hạnh - Giám đốc Chứng khoán SHS ước tính, với độ nhạy cao của nền kinh tế đối với lãi suất, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% có thể làm chi phí lãi vay toàn hệ thống tăng thêm khoảng 184.000 tỷ đồng mỗi năm, kéo theo nguy cơ thu hẹp biên lợi nhuận, giảm nhu cầu đầu tư tư nhân và làm suy yếu sức chống chịu của các doanh nghiệp có đòn bẩy cao. Đáng lưu ý, đây là dạng chi phí “ngấm dần” , thường bộc lộ rõ trong các quý sau khi lãi suất huy động tăng.

Link gốc

Bình luận

Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này.

FIREANT MEDIA AND DIGITAL SERVICE JOINT STOCK COMPANY

Giấy phép MXH số 251/GP-BTTTT do Bộ TTTT cấp ngày 23/05/2022
Chịu trách nhiệm nội dung: Ngô Minh Long