Tăng vốn nghìn tỷ và lãi vay lên cao: Lợi nhuận công ty chứng khoán chịu nhiều sức ép
Gắn thẻ
4 mã
Báo cáo tài chính quý III/2026 cho thấy không phải doanh nghiệp chứng khoán nào cũng chuyển hóa được sự gia tăng nguồn lực thành lợi nhuận tương ứng. Chi phí huy động vốn và hiệu quả phân bổ tài sản đang trở thành những yếu tố tạo ra khác biệt trong kết quả kinh doanh.
Cuộc đua tăng vốn thay đổi quy mô ngành chứng khoán
Năm 2026 tiếp tục chứng kiến làn sóng tăng vốn tại các công ty chứng khoán Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp thực hiện phát hành cổ phiếu, tiếp nhận thêm vốn góp của cổ đông hoặc tăng vốn từ các nguồn thuộc vốn chủ sở hữu, nhằm mở rộng năng lực tài chính phục vụ hoạt động kinh doanh.
Quá trình tăng vốn không chỉ diễn ra tại những công ty chứng khoán có quy mô lớn nhất thị trường mà còn lan sang các doanh nghiệp quy mô vừa. Nhu cầu mở rộng cho vay ký quỹ, đầu tư tài sản tài chính và phát triển dịch vụ ngân hàng đầu tư đang tạo động lực cho các kế hoạch bổ sung vốn.
Chứng khoán Vietcombank (VCBS) là một trong những doanh nghiệp tăng vốn mạnh trong năm. Vốn điều lệ công ty được nâng từ 2.500 tỷ đồng lên 8.500 tỷ đồng, qua đó gia tăng đáng kể quy mô nguồn lực tài chính.
Theo báo cáo tài chính quý III/2026, tổng tài sản của VCBS tại cuối tháng 9 đạt gần 25.788 tỷ đồng. Các khoản cho vay đạt hơn 14.555 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay giao dịch ký quỹ chiếm phần lớn. Bên cạnh đó, công ty cũng mở rộng quy mô các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn.
Sự gia tăng đồng thời của hoạt động cho vay và đầu tư cho thấy nguồn vốn tại VCBS đang được phân bổ vào những tài sản tạo thu nhập lãi. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của quá trình này còn phụ thuộc vào chi phí huy động và khả năng duy trì chênh lệch thu nhập trong các kỳ tiếp theo.

(Ảnh minh họa)
Chứng khoán HD (HDS) cũng ghi nhận bước thay đổi lớn về quy mô. Trong năm 2026, vốn điều lệ doanh nghiệp tăng từ hơn 1.461 tỷ đồng lên gần 10.961 tỷ đồng. Tại ngày 30/9, tổng tài sản đạt gần 27.750 tỷ đồng, cao hơn khoảng 21.800 tỷ đồng so với đầu năm.
Trong cơ cấu tài sản của HDS, các khoản cho vay đạt gần 10.972 tỷ đồng, trong khi danh mục tài sản tài chính FVTPL có giá trị hợp lý hơn 9.463 tỷ đồng. Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn đạt hơn 5.250 tỷ đồng, cho thấy hoạt động sử dụng vốn mở rộng trên nhiều nghiệp vụ.
Quá trình mở rộng quy mô của HDS diễn ra cùng với sự gia tăng nguồn vốn vay. Tại cuối quý III, dư nợ vay ngắn hạn đạt 10.565 tỷ đồng, trong khi đầu năm chưa ghi nhận số dư tại khoản mục này.
Tại Chứng khoán An Bình (ABS), vốn góp của chủ sở hữu tăng từ hơn 1.011 tỷ đồng đầu năm lên hơn 3.011 tỷ đồng vào cuối tháng 9. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy doanh nghiệp thu về 2.000 tỷ đồng từ hoạt động phát hành cổ phiếu trong 9 tháng.
Nguồn vốn mới giúp ABS mở rộng hoạt động đầu tư tài chính và cho vay. Tại cuối quý III, danh mục FVTPL của công ty có quy mô lớn, bao gồm trái phiếu chưa niêm yết, cổ phiếu chưa niêm yết và các tài sản tài chính khác.
Ở nhóm doanh nghiệp quy mô vừa, Chứng khoán ASEAN cũng hoàn tất tăng vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng lên 3.000 tỷ đồng trong tháng 9/2026. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cho thấy công ty nhận được 1.500 tỷ đồng từ hoạt động phát hành cổ phiếu và vốn góp của chủ sở hữu trong 9 tháng.
Sau đợt tăng vốn, vốn chủ sở hữu của ASEANSC đạt hơn 3.539 tỷ đồng tại cuối tháng 9, tăng mạnh so với đầu năm. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục mở rộng nợ vay, công ty ghi nhận dư nợ vay ngắn hạn giảm từ 1.658 tỷ đồng xuống còn 551 tỷ đồng. Trường hợp ASEANSC cho thấy quá trình tăng vốn có thể đi kèm với việc cơ cấu lại nguồn tài trợ, chứ không nhất thiết dẫn đến mở rộng tổng tài sản hoặc dư nợ vay tương ứng.
Việc tăng vốn cũng cần được xem xét trên cơ sở nguồn hình thành vốn. Phát hành cổ phiếu thu tiền, phát hành cổ phiếu để trả cổ tức và chuyển các quỹ sang vốn điều lệ có tác động khác nhau đến dòng tiền và cơ cấu nguồn vốn. Do đó, mức tăng vốn điều lệ chưa đủ phản ánh lượng tiền mới thực tế được bổ sung vào doanh nghiệp.
Chi phí lãi vay gia tăng, hiệu quả sử dụng vốn chịu sức ép
Cùng với sự mở rộng của hoạt động cho vay và đầu tư tài chính, chi phí huy động vốn trở thành một yếu tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của các công ty chứng khoán trong quý III/2026.
Diễn biến tại VCBS cho thấy sự khác biệt giữa tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận. Quý III, doanh thu hoạt động của công ty đạt hơn 666 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cùng kỳ. Trong đó, lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt 373,4 tỷ đồng, tăng 62%.
Tuy nhiên, chi phí tài chính của VCBS tăng mạnh lên gần 314 tỷ đồng, khoảng gấp đôi cùng kỳ năm trước. Riêng chi phí lãi vay đạt gần 310 tỷ đồng, chiếm phần lớn khoản chi phí này.
Kết quả, lợi nhuận trước thuế của VCBS giảm 35%, còn gần 193 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 154,6 tỷ đồng. Theo giải trình của doanh nghiệp, biến động bất lợi của thị trường ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh và môi giới, đồng thời chi phí tài chính gia tăng tiếp tục tạo sức ép lên kết quả kinh doanh.
Tại Chứng khoán BIDV (BSC), doanh thu quý III đạt 819 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận trước thuế giảm từ 269 tỷ đồng xuống còn 207 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 165 tỷ đồng, giảm 23,5%.
Theo giải trình của BSC, chi phí tài chính tăng khoảng 133%, chủ yếu do chi phí lãi vay gia tăng khi công ty mở rộng quy mô vốn huy động phục vụ hoạt động kinh doanh. Đây là một trong những nguyên nhân khiến lợi nhuận giảm dù doanh thu tăng trưởng.
Ở nhóm công ty có vốn nước ngoài, Chứng khoán Phú Hưng ghi nhận chi phí tài chính quý III gần 88,8 tỷ đồng, tăng hơn 43% so với cùng kỳ. Khoản mục này bao gồm chi phí lãi vay 60,8 tỷ đồng và lỗ chênh lệch tỷ giá gần 28 tỷ đồng.
Trong khi đó, lãi từ các khoản cho vay và phải thu đạt gần 101,9 tỷ đồng, tăng 13,5%. Dù nguồn thu cho vay cải thiện, lợi nhuận sau thuế của Phú Hưng vẫn giảm gần 64%, xuống còn khoảng 15 tỷ đồng, do tác động đồng thời của doanh thu môi giới giảm và chi phí tài chính gia tăng.
Theo thuyết minh báo cáo tài chính, dư nợ vay ngân hàng nước ngoài của Phú Hưng tại cuối tháng 9 đạt gần 2.667 tỷ đồng, chiếm phần lớn dư nợ vay ngắn hạn. Cơ cấu này khiến chi phí lãi vay và chênh lệch tỷ giá trở thành những khoản mục cần theo dõi khi đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Áp lực chi phí vốn cũng xuất hiện tại Chứng khoán OCBS. Quý III, doanh thu hoạt động tăng gần 91%, đạt khoảng 259 tỷ đồng. Tuy nhiên, chi phí lãi vay tăng lên 69,1 tỷ đồng, cao hơn hơn 12 lần cùng kỳ năm trước.
OCBS ghi nhận lợi nhuận trước thuế tăng 13,1%, nhưng lợi nhuận sau thuế giảm 5,7%, còn 81,7 tỷ đồng. Báo cáo cho thấy ngoài chi phí tài chính, biến động chi phí hoạt động và thuế thu nhập doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến mức lợi nhuận cuối cùng.
Tại ASEANSC, chi phí lãi vay quý III đạt 67,9 tỷ đồng, cao gấp khoảng 5,3 lần cùng kỳ và vượt doanh thu hoạt động 56,96 tỷ đồng. Doanh nghiệp ghi nhận lỗ từ hoạt động kinh doanh hơn 35 tỷ đồng, nhưng vẫn có lợi nhuận trước thuế 30,75 tỷ đồng nhờ khoản thu nhập khác hơn 66 tỷ đồng. Sự khác biệt giữa kết quả hoạt động kinh doanh và lợi nhuận trước thuế tại ASEANSC cho thấy việc đánh giá hiệu quả tài chính cần xem xét cơ cấu nguồn thu, thay vì chỉ dựa vào con số lãi cuối cùng.
Trong khi nhiều doanh nghiệp chịu sức ép từ chi phí huy động vốn, HDS vẫn ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận mạnh nhờ sự đóng góp của nhiều mảng hoạt động. Tuy nhiên, chi phí lãi vay quý III của công ty cũng tăng từ 11,5 tỷ đồng lên 116,7 tỷ đồng.
Trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ, HDS ghi nhận dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm hơn 20.000 tỷ đồng trong 9 tháng đầu năm, chủ yếu gắn với việc mở rộng các khoản cho vay và đầu tư tài sản tài chính. Ngược lại, dòng tiền tài chính dương lớn nhờ phát hành cổ phiếu và vay vốn.
Đối với các công ty chứng khoán, dòng tiền kinh doanh âm do tăng cho vay hoặc đầu tư tài sản không đồng nghĩa doanh nghiệp mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, sự chênh lệch giữa dòng tiền kinh doanh và nguồn vốn huy động phản ánh mức độ phụ thuộc vào khả năng tiếp tục tài trợ cho hoạt động kinh doanh.
Hoàng Phan
Bình luận (1)