Dư địa mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng đang thu hẹp do phải đáp ứng các quy định chặt chẽ về an toàn vốn, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phát triển thị trường vốn.
Tín dụng ngân hàng vẫn là trụ cột vốn
Trong nhiều năm qua, hệ thống ngân hàng giữ vai trò trung tâm trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế Việt Nam. Theo ông Nguyễn Đức Hải - Giám đốc Đầu tư cấp cao, Công ty Quản lý Quỹ Manulife Investments Việt Nam, một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, với sự tham gia mạnh mẽ của các kênh dẫn vốn trung và dài hạn, đến nay vẫn chưa hình thành đầy đủ tại Việt Nam. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, từng được kỳ vọng trở thành trụ cột quan trọng cho nguồn vốn dài hạn, mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu thì đã chịu cú sốc lớn trong những năm gần đây, khiến dòng vốn trung và dài hạn bị gián đoạn trong một thời gian dài.
Dù hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã có dấu hiệu phục hồi, nhưng đến nay, hơn 70% giá trị phát hành tăng thêm vẫn đến từ trái phiếu ngân hàng. Điều này cho thấy, các tổ chức tín dụng tiếp tục huy động vốn qua thị trường trái phiếu rồi quay trở lại cho vay nền kinh tế. Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp, đối tượng có nhu cầu lớn về vốn trung và dài hạn cho đầu tư sản xuất vẫn chưa thể khai thác hiệu quả kênh huy động này.

Các tổ chức tín dụng tiếp tục huy động vốn qua thị trường trái phiếu rồi quay trở lại cho vay nền kinh tế. Ảnh: An Thư
Thực tế trên phản ánh mức độ phụ thuộc của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng vẫn còn lớn, trong khi thị trường vốn chưa phát huy đầy đủ vai trò chia sẻ gánh nặng cho tín dụng.
Vấn đề càng trở nên rõ nét khi dư địa mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng có xu hướng thu hẹp hơn so với trước. Ngân hàng là ngành kinh doanh có điều kiện, trong đó yêu cầu về hệ số an toàn vốn là ràng buộc then chốt. Mỗi bước tăng trưởng tín dụng đều đòi hỏi phần vốn tự có tương ứng, khiến khả năng mở rộng dư nợ phụ thuộc lớn vào năng lực tăng vốn của từng tổ chức.
Đối với nhóm 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn, lực lượng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ toàn hệ thống, nguồn tăng vốn hiện nay chủ yếu vẫn đến từ lợi nhuận giữ lại. Việc bổ sung vốn cho nhóm ngân hàng này cần cân nhắc nhiều yếu tố, trong khi các phương án tăng vốn thường đòi hỏi thời gian và quy trình phù hợp. Điều này khiến một phần quan trọng của hệ thống ngân hàng gặp những giới hạn nhất định trong việc mở rộng quy mô tín dụng.
Trong bối cảnh đó, dư địa điều hành chính sách tiền tệ có xu hướng thu hẹp hơn so với giai đoạn trước. Việc duy trì tăng trưởng tín dụng ở mức cao như thời gian qua trở nên thách thức hơn, do mỗi đồng tín dụng mở rộng đều kéo theo yêu cầu về vốn tự có tương ứng.
“Nếu hệ thống ngân hàng phải vận hành trong trạng thái căng thẳng kéo dài, các rủi ro về thanh khoản và ổn định tài chính có thể gia tăng. Vì vậy, tăng trưởng tín dụng nhiều khả năng sẽ được điều hành theo hướng thận trọng, nhằm bảo đảm an toàn hệ thống” - ông Hải nhận định.
Hạ tầng cần nguồn vốn dài hạn quy mô lớn
Yêu cầu phát triển các kênh vốn dài hạn càng trở nên rõ nét khi nhu cầu đầu tư hạ tầng của Việt Nam trong giai đoạn tới được dự báo ở mức rất lớn. Theo ước tính của ông Nguyễn Đức Hải, từ nay đến năm 2030, mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 40 tỷ USD cho các dự án điện, cảng biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt cao tốc và đường sắt đô thị. Với quy mô vốn như vậy, hệ thống ngân hàng khó có thể và cũng không nên đảm nhiệm toàn bộ nhu cầu tài trợ vốn, nếu muốn duy trì sự ổn định tài chính lâu dài.
Trước thực tế này, Chính phủ đã xác định rõ yêu cầu giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và đang thúc đẩy các hướng đi chiến lược nhằm đa dạng hóa kênh dẫn vốn cho nền kinh tế. Một trong những giải pháp quan trọng là thu hút nguồn vốn từ bên ngoài thông qua việc xây dựng và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, qua đó tạo thêm kênh huy động vốn trung và dài hạn.
Theo ông Hải, các dòng vốn quốc tế, đặc biệt là vốn dài hạn, có thể tham gia các dự án hạ tầng quy mô lớn như cảng biển, năng lượng, giao thông - những lĩnh vực có vòng đời đầu tư kéo dài từ 10 đến 20 năm. Nếu các dự án này chỉ dựa vào vốn ngân hàng trong nước, rủi ro mất cân đối kỳ hạn và áp lực thanh khoản có thể gia tăng.
Song song với đó, việc tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường cổ phiếu theo hướng minh bạch, kỷ luật và hấp dẫn hơn được xem là điều kiện then chốt. Ông Hải phân tích, mục tiêu của định hướng này không phải là tạo ra sự cạnh tranh giữa ngân hàng và thị trường vốn, mà là “phân vai” hợp lý: ngân hàng nên tập trung vào các khoản cho vay ngắn hạn, phù hợp với cấu trúc nguồn vốn, trong khi các dự án đầu tư dài hạn cần được tài trợ bởi những nguồn vốn ổn định hơn từ thị trường vốn. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng dồn gánh nặng tài trợ dài hạn lên hệ thống ngân hàng, qua đó giảm thiểu rủi ro cho an toàn tài chính.
Chính sách tiền tệ vẫn còn thận trọng
Ở góc độ điều hành vĩ mô, ông Trần Ngọc Báu - CEO WiGroup (công ty chuyên cung cấp dữ liệu kinh tế - tài chính) cho rằng, dư địa giữa chính sách tài khóa và tiền tệ hiện nay có sự khác biệt rõ rệt. Trong khi không gian tài khóa của Việt Nam vẫn được đánh giá là tương đối rộng, cho phép tiếp tục sử dụng các công cụ ngân sách để hỗ trợ tăng trưởng, thì chính sách tiền tệ phải cân nhắc nhiều hơn các yếu tố liên quan đến ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và áp lực tỷ giá.
Dù vậy, một điểm tích cực là dòng vốn ngoại sinh được kỳ vọng sẽ cải thiện trong thời gian tới. Trong 2 - 3 năm vừa qua, cả Chính phủ và khu vực doanh nghiệp đều ở trạng thái trả nợ nước ngoài ròng, khiến dòng vốn ngoại chảy ra nhiều hơn dòng vốn vào.
Nếu áp lực này giảm bớt và dòng vốn ngoại quay trở lại, nguồn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế sẽ tạo thêm dư địa hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống tài chính. Khi Ngân hàng Nhà nước mua vào ngoại tệ để tăng dự trữ, một lượng tiền đồng tương ứng sẽ được đưa ra thị trường, qua đó góp phần cải thiện thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Bên cạnh đó, dù giải ngân đầu tư công được đánh giá tích cực, một lượng vốn đáng kể vẫn đang nằm trong hệ thống ngân hàng hoặc tại Ngân hàng Nhà nước. Nếu các nguồn lực này được sử dụng hiệu quả hơn, thanh khoản của hệ thống tài chính sẽ tiếp tục được hỗ trợ.
Tổng thể, năm 2026 được nhìn nhận là giai đoạn mà dư địa chính sách tiền tệ tiếp tục bị thu hẹp, song sự hỗ trợ từ dòng vốn ngoại và không gian tài khóa có thể giúp duy trì trạng thái chính sách ở mức tương đối trung tính, tương đương năm 2025. Trong bối cảnh đó, chính sách tiền tệ được điều hành theo hướng thận trọng để cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát lạm phát, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển thị trường vốn như một trụ cột quan trọng nhằm giảm dần sự lệ thuộc của nền kinh tế vào hệ thống ngân hàng.
Thu Hương





