Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị trình bày chuyên đề Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
Sáng 25/2, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã trình bày chuyên đề “Nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước”.
Mở rộng nội hàm của kinh tế nhà nước
Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một Nghị quyết chuyên đề, làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này.
Theo đó, kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô, bảo đảm an ninh quốc phòng như đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng trời, vùng biển, không gian ngầm, hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các đơn vị sự nghiệp công lập.

Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng.
Nghị quyết khẳng định trong suốt 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau 40 năm đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, vừa trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa là nền tảng nguồn lực vật chất quan trọng, đồng thời là công cụ chiến lược để Nhà nước thực hiện vai trò định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao năng lực tự chủ, tự cường và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trước bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế, đồng thời nhằm phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước, góp phần hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước đến năm 2030 và năm 2045, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo mang tính hệ thống, bao trùm và toàn diện về phát triển kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất là đổi mới, bổ sung và cụ thể hóa nội hàm, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ hai là xác định rõ mối quan hệ cùng phát triển giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực. Thứ ba là quan điểm về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước. Thứ tư là nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Thứ năm là tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với kinh tế nhà nước, nhất là trong định hướng sử dụng nguồn lực và tổ chức thực hiện.
Đối với mục tiêu, tầm nhìn phát triển kinh tế nhà nước, Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Trong số đó, mục tiêu tổng quát với 4 nội dung chính gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước, cụ thể là: Nâng cao hiệu quả phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh, thúc đẩy tiến bộ công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Đồng thời, Nghị quyết xác định các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 cần đạt đối với các thành tố của kinh tế nhà nước với 6 thành tố về đất đai, tài nguyên; về tài sản kết cấu hạ tầng; về ngân sách dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; về doanh nghiệp nhà nước; về tổ chức tín dụng nhà nước; về đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong đó, lưu ý một số mục tiêu định lượng như: Về ngân sách, dự trữ quốc gia, tỷ lệ huy động nguồn ngân sách đạt khoảng 18% GDP, bội chi ngân sách khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP, chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách, chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách. Về doanh nghiệp nhà nước, phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và có từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới, 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số...
Tập trung triển khai mạnh mẽ, thực chất các nhiệm vụ, giải pháp
Để thực hiện những mục tiêu trên, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nêu rõ, Nghị quyết đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ giải pháp liên quan đến 7 lĩnh vực như: Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, kinh tế biển, vùng trời, kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế không gian tầm thấp, không gian ngầm, tài nguyên số và tài nguyên viễn thông. Trong đó cần quán triệt và thực hiện một số nhiệm vụ giải pháp mới và trọng tâm. Đó là, ngay trong năm 2026, hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác; xây dựng, ban hành luật đất đai sửa đổi và các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
Ban hành cơ chế vượt trội và triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ. Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để quản lý, phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu, đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn hệ thống quỹ, giảm đầu mối, tăng quy mô, không thành lập quỹ mới khi không cần thiết, sáp nhập, giải thể quỹ hoạt động kém hiệu quả, đẩy mạnh cơ chế ủy thác cho các tổ chức tài chính chuyên nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết đã đề ra 17 nhóm nhiệm vụ giải pháp cụ thể thuộc 4 nội dung chính: Bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước; Thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; Đổi mới nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp; Cơ cấu lại vốn nhà nước và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.
Phát triển doanh nghiệp nhà nước mạnh, đóng vai trò dẫn dắt
Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế, như quốc phòng an ninh, năng lượng, vận tải, logistics, tài chính ngân hàng, khoa học công nghệ, điện tử viễn thông, hạ tầng số, khoáng sản chiến lược, hóa chất, xây dựng... Ban hành chính sách tạo động lực cho doanh nghiệp nhà nước tăng quy mô vốn điều lệ, bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất, cấp đủ tín dụng đối với các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.

Nghị quyết đã định hướng rõ đầu tư phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế.
Khuyến khích doanh nghiệp nhà nước đẩy mạnh, tiên phong trong hoạt động nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, đầu tư liên kết làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm phát thải khí nhà kính. Có cơ chế cho phép hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm.
Đánh giá hiệu quả doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, hạch toán, phản ánh đầy đủ lợi thế, các nguồn lực của nhà nước phù hợp với thông lệ quốc tế, hạch toán tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh với nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ không vì mục tiêu lợi nhuận.
Định hướng mới của Nghị quyết số 79 về tổ chức cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là không làm ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín.
Về thoái vốn nhà nước, cần quán triệt điểm mới của Nghị quyết là: Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập vào các doanh nghiệp nhà nước hoặc chuyển giao cho các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, đảm bảo công khai, minh bạch, hiệu quả, theo nguyên tắc "Nhà nước làm những gì tư nhân không làm hoặc không có khả năng làm, những gì tư nhân làm được thì Nhà nước phải làm tốt hơn". Các thương hiệu quốc gia có uy tín tiếp tục đầu tư để hoạt động hiệu quả hơn. Tái cơ cấu Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, hướng tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia.
Tổ chức sắp xếp lại mạng lưới ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước. Tăng vốn điều lệ cần xác định là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao năng lực tài chính, tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động.
Nghị quyết nhấn mạnh chuyển các dịch vụ sự nghiệp công có khả năng xã hội hóa cao sang thực hiện cơ chế thị trường, mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công. Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp.
Thúy Hà





