Hãy là người đầu tiên thích bài này
Kinh tế Việt Nam năm Bính Ngọ: Kỳ vọng một năm 'mã đáo thành công'

Kinh tế Việt Nam bước vào năm Bính Ngọ với kỳ vọng tăng tốc mạnh mẽ hơn, hướng tới mục tiêu hai con số từ năm 2026. Dù phía trước còn không ít thách thức về vốn, thể chế và chất lượng tăng trưởng, nhiều chuyên gia cho rằng nếu các động lực cải cách được triển khai đồng bộ, nền kinh tế hoàn toàn có cơ sở để kỳ vọng một năm “mã đáo thành công”.

Từ nền tảng vững chắc

Việt Nam khép lại năm 2025 với bức tranh kinh tế - tài chính đầy tích cực, khi GDP tăng 8% và VN-Index bứt phá 36,5%, phản ánh sự phục hồi rõ nét của cả hoạt động sản xuất lẫn thị trường vốn. Bước sang năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP lên tới 10%, cho thấy quyết tâm duy trì đà tăng tốc của nền kinh tế.

Ông Michael Kokalari, Giám đốc Phân tích kinh tế vĩ mô và Nghiên cứu thị trường của VinaCapital chỉ ra những động lực chủ chốt đang định hình triển vọng kinh tế và thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm làn sóng đẩy mạnh đầu tư công, sự phục hồi dần của tiêu dùng trong nước, xuất khẩu tiếp tục giữ vai trò trụ cột nhờ nhu cầu liên quan đến AI và sức mua mạnh mẽ từ thị trường Mỹ, cùng với các yếu tố hỗ trợ thị trường chứng khoán như triển vọng nâng hạng FTSE và nguồn cung IPO cải thiện.

Đồng quan điểm, trao đổi với VietnamFinance, chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Quốc Việt cho hay văn kiện Đại hội XIV đặt mục tiêu phát triển đất nước gắn với hai dấu mốc 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, hướng tới Việt Nam dân giàu, nước mạnh, thịnh vượng, công bằng, văn minh.

Kinh tế Việt Nam năm Bính Ngọ: ‘Mã đáo thành công’.

Trên cơ sở đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 được xác định là bước đi cụ thể để hiện thực hóa “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc.

Ông Việt khẳng định đây là quyết tâm chính trị lớn, nhưng cũng dựa trên nền tảng thực tiễn. Sau Covid-19, kinh tế Việt Nam phục hồi tích cực, nằm trong nhóm 33 nền kinh tế lớn nhất thế giới và top 15 quốc gia có độ mở thương mại cao. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 920 tỷ USD, khẳng định vị thế ngày càng sâu trong chuỗi giá trị toàn cầu.

"Việt Nam tiếp tục thu hút mạnh dòng vốn FDI, không chỉ ở vốn đăng ký mà cả vốn thực hiện và vốn bổ sung. Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh M&A để tham gia sâu hơn vào thị trường nội địa. Nền tảng hội nhập với 17 FTA, trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, củng cố thêm nội lực kinh tế", chuyên gia kinh tế Nguyễn Quốc Việt nói.

Khu vực tư nhân, theo ông Việt cũng nổi lên là động lực quan trọng khi nhiều tập đoàn đầu tư lớn vào công nghệ và hạ tầng chiến lược. Tỷ trọng thuế thu nhập doanh nghiệp từ khu vực này tăng đáng kể trong 5 năm qua, cho thấy sức phục hồi và đóng góp ngày càng rõ nét.

"Cùng với hạ tầng được cải thiện, tiêu dùng nội địa và du lịch phục hồi, phân khúc chi tiêu cao cấp tăng lên, tạo thêm động lực cho tổng cầu. Tổng hòa các yếu tố này cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số từ năm 2026 có cơ sở thực tiễn, không chỉ là tuyên bố quyết tâm", ông Nguyễn Quốc Việt khẳng định.

Tới những rủi ro hiện hữu

Thuận lợi lớn là vậy, nhưng công bằng mà nói việc đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao cũng mang lại không ít những thách thức. Thừa nhận thực tế này, tại cuộc họp Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc cho hay năm 2026 được các chuyên gia nhận định là sẽ tiếp tục khó khăn, áp lực nguồn vốn rất lớn, tiềm ẩn những rủi ro liên quan tới lãi suất, nợ xấu, tỷ giá hối đoái, trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ...

Năm 2026 được các chuyên gia nhận định là sẽ tiếp tục khó khăn, áp lực nguồn vốn rất lớn.

Do đó, sang năm tới, Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia khuyến nghị với Chính phủ không mở rộng chính sách tiền tệ, điều hành thận trọng hơn, phối hợp một cách hợp lý giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tập trung vào chuyển đổi số, công nghệ cao, công nghệ thông tin, hạ tầng số, đổi mới sáng tạo…

Chỉ ra những điểm nghẽn nền tảng của tăng trưởng trung hạn, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng, nút thắt đầu tiên nằm ở đất đai – một rủi ro lớn của nền kinh tế. Đất đai vừa là tài sản quốc gia, vừa là đầu vào của phát triển, là một dạng vốn đầu tư theo đúng nghĩa “capital” mà Karl Marx đề cập trong bộ Tư bản. Tuy nhiên, chúng ta chưa chuyển hóa hiệu quả từ “tài sản – lãnh thổ” sang “nguồn lực thị trường – vốn đầu vào” cho các chủ thể sử dụng theo nguyên tắc thị trường. Quyền tài sản vì vậy chưa được xác lập đầy đủ và minh bạch.

Điểm nghẽn thứ hai, theo ông Thiên là vốn. Doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong huy động nguồn lực tài chính. Dù đầu tư công được đẩy mạnh, dòng vốn lưu chuyển lớn, song khu vực tư nhân – đặc biệt trong sản xuất – lại tăng vốn chậm nhất, trong khi vốn chảy vào các lĩnh vực đầu cơ tăng nhanh. Điều này khiến việc tiếp cận vốn của nền kinh tế tiềm ẩn rủi ro, trở thành nút thắt lớn khi các điều kiện tín dụng và bảo đảm vay vốn còn nhiều rào cản. Theo ông, thị trường vốn phải thực sự là “mạch máu” của nền kinh tế; mạch máu không thông thì cơ thể không thể khỏe mạnh.

Liên quan đến đất đai, ông lưu ý việc “xác định giá đất theo thị trường” thời gian qua trên thực tế lại phản ánh giá của thị trường đầu cơ, không phải thị trường đúng nghĩa. Giá đất vì thế bị méo mó ngay từ điểm xuất phát, do cơ chế định giá lệch khỏi nguyên tắc thị trường. Trong khi đó, Nhà nước có trong tay các công cụ thuế, phí rất hiệu quả để hạn chế đầu cơ nhưng chưa được sử dụng tương xứng. Nếu chạy theo mức “giá sẵn có” tại một thời điểm – nhất là khi giá đã bị đẩy lên – và coi đó là “giá thị trường chuẩn”, nền kinh tế rất dễ rơi vào bẫy đầu cơ.

Nút thắt thứ ba là nguồn nhân lực và giáo dục. Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, cải cách giáo dục phải gắn trực tiếp với yêu cầu tái cấu trúc nguồn nhân lực. Đây không thể chỉ là những điều chỉnh kỹ thuật hay thay đổi câu chữ, mà phải là thay đổi tận gốc triết lý giáo dục: từ mô hình truyền thụ tri thức thụ động, học thuộc, áp đặt, sang nền giáo dục khai phóng, đề cao tư duy độc lập, sáng tạo và tranh luận. Trong thời đại đổi mới sáng tạo, mở rộng không gian sáng tạo phải trở thành chức năng cốt lõi của giáo dục.

Phát huy các đầu kéo đủ mạnh

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long khẳng định mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 đúng là rất tham vọng, song hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam phát huy các “đầu kéo” đủ mạnh và triển khai chính sách đột phá, đồng bộ và quyết liệt.

Thứ nhất, động lực quyết định vẫn là đầu tư, đặc biệt là đầu tư công và đầu tư tư nhân quy mô lớn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để đạt tăng trưởng hai chữ số, tỉ lệ đầu tư toàn xã hội cần duy trì khoảng 34-36% GDP, cao hơn mức trung bình hiện nay.

Trọng tâm không phải là “chi nhiều hơn”, mà là giải ngân nhanh, đúng dự án, đúng trọng tâm vào hạ tầng chiến lược, năng lượng, logistics, công nghiệp chế biến - chế tạo và các ngành có hệ số lan tỏa cao.

Thứ hai, xuất khẩu và FDI chất lượng cao tiếp tục là “đầu kéo ngoại sinh” quan trọng. Việt Nam cần chuyển từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, gắn với công nghệ, đổi mới sáng tạo và liên kết thực chất với doanh nghiệp trong nước.

Thứ ba, động lực mới đến từ kinh tế số, kinh tế xanh và nâng cao năng suất lao động. Nếu năng suất lao động xã hội có thể tăng quanh 8-9%/năm, kết hợp với mở rộng quy mô đầu tư và thị trường, tăng trưởng cao sẽ có nền tảng thực chất hơn.

Nếu các giải pháp được triển khai đồng bộ và thực chất, kinh tế Việt Nam năm 2025 sẽ đứng trước nhiều cơ hội bứt tốc. Theo chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình, với nền tảng vĩ mô đang được giữ vững, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để hoàn thành các mục tiêu đề ra trong năm Bính Ngọ; và khi khép lại năm, có thể kỳ vọng vào một kết quả “mã đáo thành công”.

Kỳ Thư

Link gốc

Bình luận

Chưa có bình luận
Hãy là người đầu tiên bình luận cho bài viết này.

FIREANT MEDIA AND DIGITAL SERVICE JOINT STOCK COMPANY

Giấy phép MXH số 251/GP-BTTTT do Bộ TTTT cấp ngày 23/05/2022
Chịu trách nhiệm nội dung: Ngô Minh Long