
Trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò của kinh tế số như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Điều này đòi hỏi trong giai đoạn phát triển mới nền kinh tế phải vận hành theo mô hình mới trên nền tảng số. Để kinh tế số phát huy tốt vai trò động lực tăng trưởng của nền kinh tế, trao đổi với phóng viên Tạp chí Kinh tế - Tài chính, bà Nguyễn Thị Mai Hạnh – Trưởng ban, Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia (Cục Thống kê) cho rằng, Việt Nam cần tập trung ưu tiên hoàn thiện thể chế, chính sách, đầu tư hạ tầng số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực công nghệ...
Phóng viên: Thưa bà, bà có thể cho biết những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế số của Việt Nam qua những con số mà Cục Thống kê tính toán được?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Kinh tế số không chỉ là xu hướng tất yếu mà còn là động lực then chốt giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh, bền vững và hội nhập sâu rộng; tác động toàn diện đến sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và quản trị, tạo ra một mô hình kinh tế hiện đại, minh bạch và hiệu quả hơn.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh – Trưởng ban, Ban Hệ thống Tài khoản quốc gia (Cục Thống kê)
Trong giai đoạn 2021-2025, kinh tế số nổi lên như một trụ cột quan trọng trong Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia với tốc độ phát triển nhanh và tương đối đồng đều trên nhiều lĩnh vực, nhất là sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được ban hành. Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP của nước ta liên tục tăng trong giai đoạn 2021-2025, từ 12,87% GDP năm 2021 lên 14,02% GDP năm 2025, trung bình giai đoạn này ước đạt khoảng 13,2%, trong đó ngành kinh tế số lõi đóng góp 8,13% và số hóa các ngành khác là 5,05%. Theo khu vực kinh tế, khu vực I (Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản) đóng góp 0,13%; khu vực II (Công nghiệp, Xây dựng) đóng góp 6,67% và khu vực III (Dịch vụ) đóng góp lớn nhất với 7,22%. Đáng chú ý, các ngành dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh và quản lý điều hành có xu hướng tăng nhanh, góp phần nâng tỷ trọng đóng góp của kinh tế số khu vực dịch vụ trong GDP từ 6,5% năm 2020 lên 7,2% năm 2025, điều này thể hiện sự nỗ lực của Chính phủ, bộ ngành và địa phương trong việc đẩy mạnh phát triển công nghệ thông tin và truyền thông, hoạt động số hóa của các ngành kinh tế ngày càng được tăng cường.
Năm 2025, ở cấp địa phương, kinh tế số đã trở thành nhân tố tạo khác biệt về tăng trưởng, với một số tỉnh, thành phố có tỷ trọng đóng góp trong GRDP vượt 20% bao gồm: Bắc Ninh (46,30%), Thái Nguyên (29,53%), thành phố Hải Phòng (22,28%), Phú Thọ (22,71%). Hai cực tăng trưởng của cả nước là Hà Nội đạt 17,34% và thành phố Hồ Chí Minh đạt 13,43%. Sự phân hóa này phản ánh khác biệt về mức độ phát triển công nghiệp, hạ tầng số, thu hút đầu tư và khả năng ứng dụng công nghệ số vào hoạt động kinh tế - xã hội ở từng địa phương.
Nhìn chung, kinh tế số ngày càng đóng vai trò then chốt trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc xây dựng một nền kinh tế số mạnh mẽ không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững và bao trùm trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Những kết quả đạt được trong thời gian vừa qua phản ánh hiệu quả bước đầu của Chiến lược chuyển đổi số quốc gia, vai trò dẫn dắt của Chính phủ số và nỗ lực đồng bộ của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và người dân trong công tác chuyển đổi số, phát triển kinh tế số và xã hội số, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Phóng viên: Theo bà, đâu là những “khoảng trống” của khu vực kinh tế này, đặc biệt là về nhân lực và hạ tầng số?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Để nhìn nhận một cách toàn diện về sự phát triển kinh tế số của Việt Nam, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, chúng ta cũng cần thẳng thắn chỉ ra những “khoảng trống” còn tồn tại như chưa có sự phát triển đồng đều, chưa khai thác hết tiềm năng và chưa được đo lường đầy đủ. Khoảng trống này có thể thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có nhân lực và hạ tầng số, cụ thể:
Thứ nhất, khoảng trống về hạ tầng và khả năng tiếp cận, có sự chênh lệch giữa khu vực đô thị và nông thôn, vùng sâu, vùng xa về hạ tầng số, internet băng rộng, trung tâm dữ liệu; các doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh và người dân ở khu vực yếu thế khó tiếp cận công nghệ số.
Thứ hai, mức độ số hóa của các doanh nghiệp là khác nhau, kinh tế số chủ yếu tập trung ở một số ngành, doanh nghiệp lớn; các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mức độ ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn, AI, thương mại điện tử còn hạn chế; kinh tế số chưa lan tỏa rộng ở khu vực sản xuất truyền thống.
Thứ ba, khoảng trống về nguồn nhân lực số, thiếu hụt lao động chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ số, khoa học dữ liệu, an ninh mạng; kỹ năng số của người lao động nhìn chung chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số.
Thứ tư, khoảng trống về thể chế, chính sách và khung pháp lý. Trong những năm gần đây khung pháp lý về phát triển kinh tế số đã được cải thiện đáng kể nhưng chưa theo kịp được các mô hình kinh doanh mới như phát triển các nền tảng số, kinh tế dữ liệu và kinh tế chia sẻ; quy định về dữ liệu, chia sẻ dữ liệu và bảo mật dữ liệu cá nhân còn đang hoàn thiện, gây cản trở khai thác giá trị dữ liệu. Điều này cũng ảnh hưởng đến công tác thống kê chi tiết đối với các giao dịch số, phân phối số ở Việt Nam.
Thứ năm, khoảng trống về khai thác giá trị dữ liệu, mặc dù dữ liệu được coi là một trụ cột, nguồn lực quan trọng trong công tác chuyển đổi số và phát triển kinh tế số nhưng việc chia sẻ và kết nối dữ liệu giữa Nhà nước – doanh nghiệp – xã hội còn yếu.
Như vậy có thể thấy, khoảng trống kinh tế số ở Việt Nam hiện nay chủ yếu nằm ở sự chênh lệch giữa tiềm năng rất lớn và mức độ phát triển, khai thác thực tế còn chưa đồng đều. Kinh tế số đã phát triển nhanh ở một số lĩnh vực, doanh nghiệp và khu vực đô thị, nhưng mức độ số hóa của phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông thôn và các ngành truyền thống vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, thể chế, nguồn nhân lực số và đặc biệt là công tác đo lường, thống kê kinh tế số chưa theo kịp thực tiễn, khiến đóng góp thực sự của kinh tế số vào tăng trưởng chưa được phản ánh đầy đủ. Thu hẹp các khoảng trống này là điều kiện quan trọng để kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng bền vững của Việt Nam trong thời gian tới.
Phóng viên: Trong bài phát biểu tại Đại hội Đảng lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh vai trò của kinh tế số như một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Điều này đỏi hỏi trong giai đoạn phát triển mới nền kinh tế phải vận hành theo mô hình mới trên nền tảng số. Theo bà, Việt Nam cần tập trung ưu tiên vào những vấn đề nào để kinh tế số phát huy tốt vai trò động lực tăng trưởng của nền kinh tế?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng chuyển đổi số toàn cầu, kinh tế số không còn là một khái niệm mới mà đã trở thành một trong những động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tại Việt Nam, quy mô kinh tế số đã và đang mở rộng rõ nét: tỷ trọng kinh tế số trong GDP Việt Nam năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần so với năm 2020 và gấp 1,5 lần so với năm 2021, cho thấy vai trò ngày càng lớn của lĩnh vực này trong phát triển kinh tế – xã hội.
Để kinh tế số phát huy tốt vai trò động lực tăng trưởng của nền kinh tế, Việt Nam cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách theo hướng khuyến khích đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển các mô hình kinh doanh mới.
Thứ hai, tập trung đầu tư hạ tầng số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hạ tầng số hiện nay không chỉ là vấn đề kỹ thuật của riêng ngành công nghệ thông tin mà cần được nhìn nhận tương đương với hạ tầng giao thông, năng lượng hay đô thị. Điều này bao gồm hạ tầng viễn thông băng rộng, 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, nền tảng dữ liệu dùng chung và các nền tảng số quốc gia. Hạ tầng số phải bảo đảm ba yếu tố: phủ rộng – ổn định – chi phí hợp lý, để mọi doanh nghiệp và người dân đều có thể tiếp cận.
Chỉ khi hạ tầng số được đầu tư đồng bộ, kinh tế số mới có thể lan tỏa sang các ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp, logistics, thương mại và dịch vụ công.
Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi số thực chất trong doanh nghiệp và các ngành kinh tế.
Kinh tế số không chỉ nằm ở các doanh nghiệp công nghệ mà quan trọng hơn là ở mức độ số hóa trong toàn bộ nền kinh tế. Hiện nay, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều rào cản về vốn, công nghệ và nhân lực khi chuyển đổi số. Do đó, cần tập trung hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, quản trị, chuỗi cung ứng và phân phối, qua đó nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đây chính là kênh quan trọng để kinh tế số không chỉ tăng về quy mô thị trường số mà còn đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP.
Nói cách khác, chuyển đổi số của doanh nghiệp là cầu nối biến tiềm năng công nghệ thành tăng trưởng kinh tế thực.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực số và kỹ năng số cho người lao động.
Con người là yếu tố quyết định khả năng hấp thụ và khai thác công nghệ. Nếu không có nguồn nhân lực phù hợp, đầu tư vào hạ tầng và công nghệ sẽ khó mang lại hiệu quả. Ưu tiên hiện nay là phổ cập kỹ năng số cơ bản cho lực lượng lao động, đồng thời đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ phần mềm. Song song với đó là chính sách thu hút, giữ chân và trọng dụng nhân tài công nghệ.
Việc phát triển nguồn nhân lực số cũng gắn chặt với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, giúp người lao động thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường việc làm trong nền kinh tế số.
Thứ năm, cần thúc đẩy khai thác hiệu quả dữ liệu như một nguồn lực sản xuất mới, gắn với cải thiện công tác đo lường, thống kê để phản ánh đầy đủ đóng góp của các động lực tăng trưởng mới, qua đó hỗ trợ điều hành và hoạch định chính sách hiệu quả hơn.
Phóng viên: Kinh tế số được xác định là không gian tăng trưởng mới, gắn với đổi mới mô hình phát triển theo chiều sâu như tinh thần Đại hội XIV đề ra. Vậy Cục Thống kê đang xây dựng và cập nhật những chỉ tiêu, phương pháp thống kê nào để theo kịp tốc độ phát triển rất nhanh của các mô hình kinh doanh số, nền tảng số?
Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh: Trước yêu cầu phát triển nhanh của kinh tế số, đổi mới công tác thống kê được xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm đo lường đúng, đủ và kịp thời không gian tăng trưởng mới của nền kinh tế. Để đo lường nền kinh tế số, trước đây Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông (nay là Bộ Tài chính và Bộ Khoa học và Công nghệ) nghiên cứu bộ chỉ tiêu đo lường kinh tế số. Ngày 31/12/2021, Thông tư số 13/2021/TT-BKHĐT được ban hành, quy định Hệ thống chỉ tiêu kinh tế số gồm 50 chỉ tiêu, trong đó có 10 chỉ tiêu liên quan đến quy mô nền kinh tế số; 07 chỉ tiêu về hạ tầng số; 19 chỉ tiêu liên quan đến mức độ phổ cập phương tiện số; 11 chỉ tiêu về mức độ phổ cập dịch vụ trực tuyến và 03 chỉ tiêu liên quan đến kỹ năng số và nguồn nhân lực kỹ thuật số. Đối với mỗi chỉ tiêu, nội dung, phương pháp tính, kỳ công bố, nguồn thông tin đơn vị chủ trì biên soạn và công bố đã được quy định đầy đủ trong Thông tư.
Để biên soạn các chỉ tiêu được giao chủ trì, trong đó có chỉ tiêu Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP, Cục Thống kê đã nghiên cứu phương pháp biên soạn của các tổ chức quốc tế và hằng năm tiến hành lồng ghép các thông tin liên quan đến yếu tố số để tiến hành thu thập thông tin thông qua các cuộc điều tra thống kê và chế độ báo cáo, đặc biệt là gắn với hệ thống tài khoản quốc gia. Do đó việc đo lường chủ yếu được thực hiện thông qua bổ sung nội dung thu thập thông tin trong các cuộc điều tra thống kê hiện có, thay vì xây dựng chỉ tiêu mới.
Theo hướng tiếp cận này, các thông tin về sản xuất và sử dụng sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng số, mức độ ứng dụng công nghệ số trong hoạt động kinh tế, cũng như vai trò của các dịch vụ số trong tiêu dùng cuối cùng và trong quá trình sản xuất của các ngành đang được từng bước tích hợp vào dữ liệu điều tra, nhằm hình thành cơ sở thông tin phục vụ đánh giá đóng góp của yếu tố số trong nền kinh tế.
Việc thu thập thông tin đối với các mô hình kinh doanh số và nền tảng số cũng đã được Cục Thống kê từng bước đưa vào thu thập trong điều tra doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể hằng năm từ năm 2022 để phục vụ đo lường nền kinh tế số theo nhiều khía cạnh khác nhau, năm 2025 với sự hỗ trợ của chuyên gia Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Cục Thống kê đã nghiên cứu thử nghiệm biên soạn bảng nguồn và sử dụng số cho Việt Nam để đo lường nền kinh tế số với các góc độ khác nhau từ giao dịch số, ngành số và sản phẩm số.
Để thu thập đầy đủ thông tin đối với mô hình kinh doanh mới, cần kết hợp giữa điều tra thống kê với khai thác dữ liệu hành chính và dữ liệu lớn từ các nền tảng số để phản ánh đầy đủ hơn quy mô giao dịch, doanh thu và giá trị tạo ra từ các hoạt động kinh tế số. Đồng thời, cách tiếp cận này giúp giảm độ trễ trong việc cập nhật số liệu, qua đó nâng cao khả năng theo dõi kịp thời sự thay đổi nhanh của các mô hình kinh doanh mới.
Quan trọng hơn, dữ liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau sẽ được chuẩn hóa và tích hợp để phục vụ biên soạn các bảng SUT/IO, bảo đảm tính nhất quán giữa số liệu chi tiết và các chỉ tiêu tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia.





